Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Từ khi luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời, nhà nớc đã tuyên truyền
và phổ biến rộng rãi để mọi ngời dân hiểu biết trong việc bảo vệ quyền lợi của
mọi thành viên và xây dựng hạnh phúc gia đình XHCN. Các cấp, các ngành mà
đặc biệt là ngành Toà án đã góp phần không nhỏ vào việc tổ chức và hoàn thiện
pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tế xét xử các vụ án ly hôn cho thấy, còn tồn tại
một số vớng mắc nh vấn đề xác định căn cứ ly hôn, hậu quả pháp lý của ly hôn.
Nhiều vụ đã phải qua nhiều cấp xét xử do có sự kháng cáo của đơng sự và
kháng nghị của ngời có thẩm quyền. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do
trình độ, năng lực của một số cán bộ xét xử cha đáp ứng với yêu cầu thực tiễn
của công việc. Bên cạnh đó, cần phải nói tới sự cha hoàn thiện của pháp luật đã
dẫn đến tình trạng các nhà áp dụng pháp luật có cách hiểu không thống nhất
nên đã vận dụng pháp luật một cách tuỳ tiện.
2. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Trong Khóa luận này em lựa chọn nghiên cứu đề tài : Ly hôn trong Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 . Mục đích của việc nghiên cứu đề
tài này là dựa trên cơ sở các quy định của luật thực định để giải quyết việc ly
hôn của vợ chồng cho hợp lý, chính xác, đảm bảo quyền, lợi ích của các bên.
Trên cơ sở đó, tìm hiểu những quy định còn bất cập, cha cụ thể, để từ đó có
những nhận xét, kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề ly hôn theo luật Hôn nhân và
gia đình Việt Nam.
Với mục đích trên, Khóa luận thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề khái quát chung về ly hôn. Với nhiệm vụ này,
em sẽ trình bày khái niệm ly hôn, tìm hiểu một cách có hệ thống và đầy đủ về
chế định ly hôn trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn phát triển.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về ly hôn. Với nội dung
này, Khóa luận đi sâu phân tích nội dung những quy định về ly hôn theo Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, so sánh với pháp luật của một số n-
ớc trên thế giới để thấy rõ những điểm thành công và hạn chế của pháp luật Việt
nam trong vấn đề ly hôn.
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
5
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về ly hôn thông qua hoạt động xét xử
của Toà án. Qua đó, đánh giá về những thành công và hạn chế của việc áp dụng
pháp luật về ly hôn để từ đó sẽ nêu lên một số những kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật về ly hôn.
3. Phơng pháp nghiên cứu
Trong khóa luận sẽ sử dụng những phơng pháp sau đây: Phơng pháp luận;
phơng pháp lịch sử; phơng pháp phân tích, tổng hợp; phơng pháp thống kê; ph-
ơng pháp so sánh, .
4. Cơ cấu của Khóa luận
Về bố cục của Khoá luận, ngoài phần Mục lục, Lời nói đầu và Danh mục tài
liệu tham khảo thì Khóa luận này đợc chia làm 3 Chơng:
Chơng 1. Khái quát chung về ly hôn
Chơng 2. Ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Chơng 3. Thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về ly hôn
và một số kiến nghị hoàn thiện chế định về ly hôn
Chơng 1
Khái quát chung về ly hôn
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
6
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
1.1 Khái niệm về ly hôn
Quan hệ hôn nhân dới chế độ xã hội chủ nghĩa với đặc điểm tồn tại lâu dài,
bền vững cho đến suốt cuộc đời con ngời vì nó đợc xác lập trên cơ sở tình yêu
thơng, gắn bó giữa vợ chồng. Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng, vì những lý
do nào đó dẫn tới giữa vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc đến mức họ không thể
chung sống với nhau nữa, vấn đề ly hôn đợc đặt ra để giải phóng cho vợ chồng
và các thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình. Ly hôn là mặt trái của
hôn nhân nhng là mặt không thể thiếu đợc khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ là
hình thức, tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ.
Vấn đề ly hôn đợc quy định trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia là
khác nhau. Một số nớc cấm vợ chồng ly hôn (theo Đạo thiên chúa), bởi vì theo
họ quan hệ vợ chồng bị ràng buộc thiêng liêng theo ý chúa. Một số nớc thì hạn
chế ly hôn bằng cách đa ra những điều kiện hết sức nghiêm ngặt. Cấm ly hôn
hay hạn chế ly hôn đều trái với quyền tự do dân chủ của cá nhân.
Pháp luật của Nhà nớc xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính
đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn
chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết
quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình.
Nhà nớc bằng pháp luật không thể cỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn
với nhau, thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải
duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thơng gắn bó giữa họ đã hết và mục
đích của hôn nhân đã không thể đạt đợc. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối
với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ
chồng, con cái và các thành viên trong gia đình.
1
Theo Lê-nin thực ra tự do ly
hôn tuyệt không có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ gia đình mà ngợc
lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở
1
1. Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Trờng Đại học luật Hà Nội, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, 2007, Tr.239
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
7
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh
2
. Nhng bên cạnh
đó, ly hôn cũng có mặt hạn chế đó là sự ly tán gia đình, vợ chồng, con cái. Vì
vậy, khi giải quyết ly hôn, Toà án phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân và bản chất của
quan hệ vợ chồng và thực trạng hôn nhân với nhiều yếu tố khác để đảm bảo
quyền lợi cho các thành viên trong gia đình, lợi ích của nhà nớc và của xã hội.
Nh vậy, ly hôn là sự chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc
quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng. (Điều 8,
khoản 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).
1.2 Sơ lợc lịch sử chế định ly hôn trong pháp luật Việt Nam qua các giai
đoạn phát triển
1.2.1 Ly hôn trong cổ luật Việt Nam
Trong cổ luật Việt Nam, các căn cứ ly hôn thờng đợc biết dới tên duyên
cớ ly hôn hay các trờng hợp ly hôn. Các duyên cớ ly hôn trong cổ luật thấm
nhuần sâu sắc t tởng Nho giáo, nghĩa là chúng đợc quy định dựa trên sự bất
bình đẳng giữa vợ chồng và nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi gia đình, gia tộc
hơn là quyền lợi cá nhân. Chính vì vậy, mà duyên cớ ly hôn trong cổ luật đợc
chia làm 3 loại: rẫy vợ, ly hôn bắt buộc và ly hôn thuận tình.
Trờng hợp rẫy vợ
Rẫy vợ là việc ngời chồng đợc đơn phơng bỏ vợ ngoài tầm kiểm soát của các
thiết chế xã hội. Điều 301 Bộ luật Hồng Đức quy định: nếu ngời vợ phạm phải
một trong các điều thất xuất thì chồng phải bỏ vợ, nếu không bỏ vợ sẽ bị tội
biếm. Tuy Bộ luật Hồng Đức không thống kê rõ các trờng hợp nào đợc coi là
thất xuất, nhng trong Hồng Đức thiện chính th (Đoạn 64) và Bộ luật Gia Long
(Điều 108) đã nêu rõ, đó là bảy trờng hợp sau: không có con, dâm đãng, không
thờ bố mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông và bị ác tật.
Trong quan niệm của xã hội Trung Quốc cũng nh xã hội Việt Nam truyền
thống, việc hôn nhân không đơn thuần là việc hai cá nhân tạo lập một gia đình
2
2. V.I.Lênin -Toàn tập, Tập 25, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1980, Tr 335.
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
8
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
mà hơn thế, nó là việc của hai bên gia tộc. Đối với cộng đồng gia tộc, mục đích
của hôn nhân là để duy trì dòng dõi và thờ phụng tổ tiên. Trong hoàn cảnh ấy,
việc không có con đợc coi là bất hiếu với cha mẹ, gây thiệt hại cho lợi ích gia
tộc và vì cớ ấy, ngời chồng đợc phép đơn phơng rẫy bỏ vợ mình. Cũng trong lợi
ích của cộng đồng gia tộc mà việc ngời vợ ghen tuông hay dâm đãng nếu ngời
chồng không bỏ thì bại hoại gia đạo, ngời vợ trộm cắp mà không bỏ thì vạ lây
đến chồng, nếu ngời vợ bị ác tật thì khi có việc tế tự thì sẽ không làm đợc cỗ,
ảnh hởng tới lợi ích gia đình, ngời chồng cũng phải bỏ. Ta thấy, duyên cớ để
ngời chồng bỏ vợ chủ yếu quy vào lỗi của ngời vợ mà những lỗi này bắt nguồn
từ địa vị thấp kém của ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến. Năm trong số bảy
duyên cớ rẫy vợ nói trên tuy có phần lỗi của ngời vợ (dù không hẳn nghiêm
trọng), nhng vì lợi ích gia đình, ngời chồng đợc quyền đơn phơng ly hôn không
cần biết đến ý kiến ngời vợ cũng nh không cần xét đâu là nguyên nhân dẫn đến
hành vi phạm lỗi của ngời vợ. Hai duyên cớ còn lại, không có con và bị ác tật,
dù ngời phụ nữ không có lỗi nhng vẫn đợc các nhà làm luật chấp nhận nh các
duyên cớ ly hôn, cũng là vì mục đích để bảo vệ quyền lợi của gia đình. Sự hy
sinh quyền lợi cá nhân vợ chồng để bảo vệ quyền lợi gia đình còn đợc các nhà
lập pháp hớng Nho giáo đẩy xa đến mức mô phỏng hoàn toàn quy định của
pháp luật Trung Quốc, theo đó, nếu ngời chồng không bỏ vợ trong trờng hợp
thất xuất thì ngời chồng bị xử tội biếm (Điều 310 Bộ luật Hồng Đức, Đoạn
166 Hồng Đức Thiện chính th). Có thể nói, pháp luật can thiệp khá sâu vào
cuộc sống gia đình của mỗi nhà. Việc ly hôn không là sự tự nguyện giữa hai ng-
ời mà hoàn toàn phụ thuộc vào địa vị kinh tế, vào sự phân tầng giai cấp xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh các trờng hợp thất xuất, cổ luật Việt Nam còn quy
định 3 trờng hợp ngời chồng không đợc bỏ vợ (tam bất khứ) dù cho ngời vợ có
phạm phải một trong các điều thất xuất, đó là: vợ đã để tang nhà chồng đợc 3
năm; khi vợ chồng lấy nhau nghèo hèn, sau trở nên giàu có; khi vợ chồng lấy
nhau, vợ còn bà con họ hàng, khi bỏ vợ, vợ không còn nơi nơng tựa. Nếu vợ
nằm trong trờng hợp thất xuất nhng nại đợc ra trờng hợp tam bất khứ mà
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
9
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
chồng vẫn bỏ vợ, thì chồng chồng bị phạt nhẹ hai trật và hai vợ chồng phải đoàn
tụ lại. Tuy nhiên, tam bất khứ không có hiệu lực nếu ngời vợ phạm phải tội
thông gian.
Trờng hợp ly hôn bắt buộc
Ngoài các trờng hợp thất xuất, cổ luật Việt Nam còn quy định khi việc kết
hôn vi phạm các điều kiện của kết hôn thì vợ chồng buộc phải ly dị. Luật không
quy định bằng cách thống kê đâu là các điều kiện thiết yếu của hôn nhân (luật
chỉ quy định các nghi lễ kết hôn) cũng nh quyền và nghĩa vụ cụ thể của vợ
chồng, mà luật chỉ can thiệp khi có sự vi phạm các điều kiện hoặc các nghĩa vụ
này và ly hôn bắt buộc đợc coi nh là hình phạt cho sự vi phạm ấy. Chẳng hạn,
về sự vi phạm nghĩa vụ chung sống giữa hai vợ chồng, Điều 308 Bộ luật Hồng
Đức quy định: phàm ngời chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại thì mất vợ.
Nếu vợ đã có con thì cho hạn một năm. Vì việc quan phải đi xa thì không theo
luật này. Đây là quy định nhằm ràng buộc trách nhiệm của ngời chồng. Trong
gia đình dới chế độ phong kiến, vợ chồng phải có nghĩa vụ đối với nhau, đó là
nghĩa vụ đồng c. Tức là vợ chồng phải cùng nhau chung sống, cùng ăn ở với
nhau và nghĩa vụ phù trợ ràng buộc trách nhiệm đối với nhau giữa hai vợ chồng.
Ngoài ra, ngời vợ phải thực hiện hai nghĩa vụ đối với chồng là trung thành và
tòng phụ. Vì vậy, khi bớc chân về nhà chồng, họ phải theo chồng nhng họ cũng
không hoàn toàn lệ thuộc vào chồng mà họ vẫn phải lo làm lo ăn để nuôi sống
gia đình. Hành vi bỏ lửng vợ mà không có lý do chính đáng là vi phạm nghĩa vụ
đồng c và nghĩa vụ phù trợ của vợ chồng. Việc bỏ lửng vợ, không có trách
nhiệm gia đình là không làm tròn bổn phận của ngời chồng trong gia đình. Hơn
nữa, điều này làm cho ngời chồng không còn là trụ cột trong gia đình để ngời
vợ có thể nhờ cậy. Trong cuộc sống gia đình, vợ chồng phải có sự quan tâm,
chăm sóc nhau cả về thể chất và tinh thần. Việc ngời chồng bỏ lửng vợ là coi
nh không còn tình nghĩa vợ chồng nữa. Do đó, để bảo vệ quyền lợi của ngời phụ
nữ, luật Hồng Đức cho phép ngời vợ đợc trình quan và thực hiện quyền ly hôn
của mình. Ngoài ra, theo Điều 333 luật Hồng Đức thì Nếu con rể lấy chuyện
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
10
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
phi lý mà mắng nhiếc cha mẹ vợ. Đem việc tha quan sẽ cho ly dị. Theo quan
niệm của Nho giáo thì bất hiếu với cha mẹ là điều không thể dung thứ đợc. Vì
vậy, việc con rể lấy chuyện thị phi mắng nhiếc cha mẹ vợ cũng là điều bất hiếu,
xúc phạm đến danh dự gia giáo của gia đình, phá hoại tình nghĩa vợ chồng. Tuy
nhiên, trong trờng hợp này ngời vợ phải tha quan và nếu quan cho phép mới đợc
ly dị, chứ ngời vợ không đợc tự ý bỏ chồng.
Điều 108 lệ thứ hai Luật Gia Long cũng quy định: nếu ngời chồng mất tích
hoặc bỏ trốn 3 năm không về thì ngời vợ đợc trình quan xin phép cải giá và nhà
vợ không phải hoàn lại đồ sính lễ.
Ly hôn bắt buộc cũng đợc áp dụng nh kết hôn giữa những ngời có quan hệ
thân thích, cùng họ với nhau, đang có tang cha mẹ mà lấy vợ, lấy chồng, các
quan lại lấy đàn bà, con gái hát xớng làm vợ cả, vợ lẽ. Ví dụ : theo quy định của
Điều 309, Luật Hồng Đức quy định: ai lấy nàng hầu làm vợ thì xử tội phạt, vì
quá say đắm nàng hầu mà thờ ơ với vợ thì xử tội biếm ; Điều 317 quy định:
ngời nào đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng mà lại cới vợ hoặc lấy chồng
thì bị xử tội đồ, ngời khác biết mà vẫn cứ kết hôn thì xử biếm ba t và đôi vợ
chồng mới cới phải chia lìa hoặc nh Điều 323 có quy định: các quan và
thuộc lại lấy đàn bà, con gái hát xớng làm vợ cả, vợ lẽ, đều xử phạt 70 trợng,
biếm ba t; con cháu các quan viên mà lấy những phụ nữ nói trên, thì xử phạt 60
trợng và đều phải ly dị .
Theo quy định của Điều 108, luật Gia Long quy định: khi vợ chồng phạm
phải điều nghĩa tuyệt thì buộc phải ly hôn. Nghĩa tuyệt có thể do lỗi của vợ
(vợ mu sát chồng), lỗi của chồng (chồng bán vợ) hoặc là lỗi của hai vợ chồng.
Riêng trờng hợp nếu vợ phạm phải nghĩa tuyệt mà chồng không bỏ, thì chồng
cũng bị phạt 80 trợng. Nghĩa là, ở các trờng hợp nghĩa tuyệt dù ngời phụ nữ
cũng đợc quyền ly hôn trong một số tình huống, địa vị pháp lý của họ cũng
không đợc bình đẳng với chồng. Có thể nói, với các trờng hợp ly hôn bắt buộc,
cổ luật Việt Nam cha phân biệt sự khác nhau giữa chế định ly hôn với huỷ hôn
trái pháp luật.
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
11
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Trờng hợp thuận tình ly hôn
Pháp luật thành văn đầu tiên về việc thuận tình ly hôn có từ thời Hồng Đức,
theo đọan 167 Hồng Đức Thiện chính th, hai vợ chồng bất hoà thuận nguyện
xin ly dị, thì tờ ly hôn phải tay viết tay ký, Tờ hợp đồng ly hôn ấy phải làm
thành hai bản, vợ chồng mỗi ngời cầm một bản, rồi mỗi ngời phân chia một nơi.
Dới chữ niên hiệu và ngày, chồng ký họ tên, vợ điểm chỉ; trong họ hoặc muốn
mợn ngời viết thay cũng đợc . . Thuận tình ly hôn có thể do vợ chồng tính
tình không hợp hoặc do nhiều nguyên nhân khác mà không phải bó buộc theo
điều khoản hoặc hình thức của pháp luật, luật không có những dự liệu bắt buộc
mà ly hôn đợc quyết định theo ý chí của hai vợ chồng và vì vậy đã góp phần
thực hiện quyền bình đẳng của ngời vợ trong gia đình với ngời chồng.
Điều 108, luật Gia Long, thuận tình ly hôn đợc quy định nh sau: nếu chồng
vợ trẹo ý không vui nhau, cả hai đều muốn ly dị, tình thì không hợp, ân đã lìa
thì không thể nào hoà lại đợc, cho phép họ ly dị, không bị tội .
Nh vậy, việc nghiên cứu duyên cớ ly hôn trong cổ luật Việt Nam cho phép
rút ra một số nhận xét sau:
1
Một là, khác với luật đơng đại chỉ chấp nhận một căn cứ ly hôn duy nhất dựa
trên thực chất sự tan vỡ của cuộc hôn nhân, trong cổ luật Việt Nam thì căn cứ ly
hôn đợc quy định không đơn nhất mà đa dạng hoặc ngời chồng có thể tự ý ly
hôn theo ý chí đơn phơng của mình khi vợ phạm phải một trong các điều thất
xuất, hoặc hai vợ chồng có thể thuận tình ly hôn, cũng có khi vợ hay chồng bị
bắt buộc ly hôn khi bên kia vi phạm một trong các điều kiện thiết yếu của hôn
nhân hay vi phạm các nghĩa vụ của vợ chồng. Điều quan trọng là, một khi
những điều kiện của các căn cứ ly hôn nói trên hội đủ, các đơng sự đợc phép
đặt dấu chấm hết cho cuộc hôn nhân của mình.
Hai là, trong xã hội phong kiến Việt Nam thời kỳ ảnh hởng đậm nét bởi t t-
ởng Nho giáo, nếu nh việc kết lập hôn nhân chính là vì lợi ích gia đình, thì khi
huỷ bỏ hôn nhân, cũng là do quyền lợi của gia đình chi phối hơn là do mối quan
1
1.Tạp chí Nhà nớc và pháp luật, 8 ( 208 )
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
12
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
hệ giữa bản thân ngời vợ và ngời chồng. Nói cách khác, ý chí cá nhân của vợ
chồng bị gạt ra ngoài lề không chỉ khi họ kết lập hôn nhân của chính họ, mà
còn khi cuộc hôn nhân của họ bị huỷ bỏ, để thay vào đó là lợi ích gia dình, gia
tộc. Ly hôn vì lí do thất xuất hay nghĩa tuyệt là sự phản ánh triệt để quan
điểm này.
Ba là, cũng dới ảnh hởng của t tởng Nho giáo đề cao đức trị mà những quy
định về duyên cớ ly hôn đã đợc thiết lập trên cơ sở đạo đức và nhân cách cá
nhân để rồi bằng cách ấy chúng đã xoá nhoà ranh giới giữa đạo đức và pháp
luật.
1
Bốn là, duyên cớ ly hôn trong cổ luật thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ và
chồng, trong đó số phận ngời phụ nữ phụ thuộc vào ý chí của ngời chồng và gia
đình chồng. Các trờng hợp ly hôn do thất xuất đã thể hiện rõ nguyên tắc này.
Ngay cả trong trờng hợp thuận tình ly hôn, cũng không có bất cứ sự đảm bảo
nào cho ngời phụ nữ.
1.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc ( đến trớc năm 1945)
Với mục đích phục vụ cho chính sách cai trị, thực dân Pháp đã chia đất nớc
ta thành 3 miền: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ với tổ chức bộ máy nhà nớc và hệ
thống pháp luật riêng.
Tại Nam Kỳ đã áp dụng quy định của của Bộ Dân Luật giản yếu 1883 quy
định quyền xin ly hôn chỉ do ngời chồng quyết định, ngời vợ không có quyền
xin ly hôn nhng đợc áp dụng chế độ tam bất khứ để hạn chế quyền xin ly hôn
của ngời chồng. Chồng không có quyền xin bỏ vợ nếu nh ngời vợ đã để tang
nhà chồng 3 năm, khi lấy nhau nghèo mà về sau giầu có, ngời vợ không còn nơi
nơng tựa để trở về nhà.
Trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ thì việc giải quyết ly hôn đợc xác
định trên cơ sở lỗi của vợ chồng tiếp tục đợc kế thừa. Tại Điều 118, 119 Bộ Dân
luật Bắc Kỳ năm 1931 để giải quyết duyên cớ ly hôn cho riêng vợ (chồng).
Theo Điều 118 Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định ngời chồng có thể xin ly hôn vợ
1
1.Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lợc khảo, tập I, Gia đình, Sài Gòn, 1962, tr 561
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
13
Ly hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
vì: vợ phạm gian, vợ bỏ nhà chồng mà đi, tuy đã bách phải về mà không về, vợ
thứ đánh, chửi, tệ bạc với vợ chính. Điều 119 Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định ngời
vợ có thể xin ly hôn vì những duyên cớ sau: chồng không làm đúng nghĩa vụ đã
cam đoan sau khi kết hôn, chồng bỏ nhà đi quá hai năm không có cớ gì chính
đáng và không lo liệu việc nuôi sống vợ con, Vấn đề ly hôn thời k ỳ này,
chủ yếu đợc xây dựng trên nền tảng Nho giáo phong kiến trớc đây và dựa theo
Dân luật của Pháp năm 1804 với quan điểm thuần tuý coi hôn nhân là một hợp
đồng do Dân luật điều chỉnh.
1.2.3 Giai đoạn từ 1945 đến nay
1.2.3.1 Từ năm 1945 - 1954
Cách mạng tháng Tám 1945 đã đa nhân dân ta từ thân phận nô lệ lên đại vị
làm chủ đất nớc, xây dựng cuộc sống hoà bình, xã hội không còn chế độ ngời
bóc lột ngời. Dới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đấu tranh xoá bỏ chế độ
hôn nhân và gia đình phong kiến cổ hủ, lạc hậu để xây dựng chế độ hôn nhân và
gia đình văn minh, tiến bộ. Do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ chúng ta mới giành
đợc chính quyền, khó khăn chồng chất, chế độ phong kiến còn đè nặng trong t
tởng của nhân dân nên nhà nớc ta cha thể ban hành một đạo luật về hôn nhân và
gia đình mà chỉ thực hiện phong trào vận động đời sống mới để nhân dân ta tự
nguyện xoá bỏ hủ tục lạc hậu.
Bên cạnh cuộc vận động, ngày 10/10/1945 Chủ tịch nớc đã ban hành Sắc
lệnh số 90/ST, cho phép áp dụng những quy định trong bộ luật của chế độ cũ có
chọn lọc trên nguyên tắc là không đợc trái với lợi ích của nhà nớc Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, trong đó, có vấn đề hôn nhân và gia đình và hậu quả của ly
hôn. Cũng ngay trong bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nớc Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: tất cả mọi ngời đều sinh
ra có quyền bình đẳng .và m u cầu hạnh phúc và trong bản Hiến Pháp đầu
tiên của nớc ta năm 1946, quyền bình đẳng giữa nam và nữ đã đợc ghi nhận tại
Điều 19 Hiến pháp: đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phơng diện
1
.
1
1. Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946
Phạm Trung Hiếu Chuyên ngành: Luật dân sự
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét