Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Điều tra đánh giá sơ bộ hệ thực vật ở khu bảo tồn thiên nhiên hang kia-pà cò, tỉnh hòa bình

Trang 2

TÓM TẮT
Báo cáo này trình bày kết quả của chuyến khảo sát sơ bộ về hệ thực vật được tiến hành
tại Khu bảo tồn thiên nhiên (Khu BTTN) Hang Kia – Pà Cò, phía tây bắc của tỉnh Hoà Bình
trong tháng 6 năm 2009. Khảo sát này được thực hiện trong khuôn khổ Dự án “Thí điểm tiếp
cận thị trường tổng hợp nhằm hỗ trợ công tác bảo tồn thiên nhiên: Nâng cao đời sống cộng
đồng vùng đệm để giảm thiểu tác động lên tài nguyên tại Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò,
huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình” do Trung tâm Con người và Thiên nhiên thực hiện.
Mục tiêu của việc khảo sát hệ thực vật tại Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò là nhằm phát
hiện, thống kê và đánh giá tính đa dạng của hệ thực vật tại Khu BTTN, đánh giá ý nghĩa sinh
học và phương hướng ưu tiên cho công tác quản lý bảo tồn. Nghiên cứu này đặc biệt quan tâm
tới nhóm thực vật nguy cấp, quí hiếm, đặc hữu và phân bố của chúng.
Những mô tả chi tiết về cấu trúc rừng và thành phần loài của các kiểu thảm thực vật
được thu thập đối với các quần xã thực vật trong khu vực thông qua các quan sát ngoài thực
địa trên các tuyến điều tra và các ô tiêu chuẩn đại diện được thiết lập. Qua toàn bộ quá trình
điều tra, tổng số 7 tuyến và 6 ô tiêu chuẩn đại diện cho 4 xã (Tân Sơn, Hang Kia, Pà Cò và
Cun Pheo) thuộc Khu BTTN đã được lập ở các quần xã thực vật trải dài từ độ cao 670m đến
1300 m. Thành phần thực vật ở các khu vực nghiên cứu được đánh giá nhanh trong các điều
tra trên tuyến.
Kết quả của chuyến điều tra thực vật này mặc dù chưa thực sự toàn diện, nhưng đã cho
thấy khu hệ thực vật thuộc Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò khá phong phú và đa dạng. Qua cả
quá trình điều tra, 880 loài thực vật có mạch thuộc 498 chi của 153 họ, 6 ngành thực vật bậc
cao đã được ghi nhận. Trong đó bao gồm 35 loài thực vật bị đe doạ theo Sách Đỏ Việt Nam
(2007), 16 loài được ghi trong Nghị Định 32/2006/NĐ-CP, 11 loài được xếp trong Danh luc
đỏ thế giới IUCN. Bên cạnh giá trị sinh học của chúng, rừng Hang Kia – Pà Cò cũng chứa
đựng nguồn tài nguyên thực vật quan trọng có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là giá trị của chúng
đối với các cộng đồng địa phương. Có nhiều loài cho gỗ quí, làm thuốc, làm cảnh hay các giá
trị khác.
Phần lớn diện tích Khu BTTN được đặc trưng bởi kiểu rừng kín lá rộng thường xanh
mưa mùa á nhiệt đới núi thấp với ba kiểu phụ. Kiểu phụ rừng trên núi đá vôi chiếm diện tích
lớn nhất. Những quan sát trong quá trình điều tra cho thấy kiểu rừng này tập trung chủ yếu tại
các xã Hang Kia, Pà Cò và Cun Pheo. Hầu hết diện tích rừng còn lại thuộc các kiểu phụ rừng
trên núi đất và rừng thứ sinh nhân tác do hoạt động khai thác, nương rẫy của nhân dân trước
kia (bao gồm rừng phục hồi sau khai thác, nương rẫy; các trảng cây bụi cây gỗ rải rác; trảng
cỏ) và kiểu phụ rừng nuôi trồng nhân tạo (rừng trồng) trong thời gian gần đây.
Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào kiểu phụ rừng trên núi đá vôi và kiểu phụ rừng
thứ sinh nhân tác. Đây là khu vực có tính đa dạng sinh học cao nhất trong Khu BTTN, có
phân bố của nhiều loài cây gỗ quí, nhiều loài thực vật có giá trị kinh tế, nhiều loài dược liệu
quí hiếm và nhiều loài thực vật bị đe doạ. Mức độ ưu tiên bảo tồn ở kiểu phụ rừng này phụ
Trang 3

thuộc vào mức độ bị tác động của chúng. Kiểu phụ rừng thứ nhất cần ưu tiên bảo tồn là kiểu
phụ rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp trên núi đá vôi bị tác động nhẹ đến
vừa tập trung ở các xã Pà Cò, Cun Pheo thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Khu BTTN.
Kiểu phụ rừng này còn giữ được nhiều đặc trưng của rừng trên núi đá vôi, một loại hình thảm
thực vật không còn nhiều ở Việt Nam. Tại đây có sự phân bố của các loài cây gỗ nguy cấp,
quý hiếm như Nghiến Excentrodendron tonkinense, Trai Garcinia fagraeoides. Ngoài ra, kiểu
phụ rừng này còn là nơi phân bố của nhiều loài thực vật nguy cấp, thực vật có giá trị kinh tế
cao và nhiều loài dược liệu.
Kiểu phụ rừng thứ hai được ưu tiên bảo tồn là kiểu phụ rừng kín lá rộng thường xanh á
nhiệt đới núi thấp trên núi đá vôi bị tác động mạnh thuộc các xóm Thung Ẳng, Thung Mặn
của xã Hang Kia. Kiểu phụ rừng này còn giữ được những nét đặc trưng của rừng trên núi đá
vôi. Kiểu phụ rừng này cũng là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên đa dạng thực vật rất cao. Đây
cũng là nơi phân bố của nhiều loài thực vật nguy cấp, quí hiếm của Việt Nam cũng như thế
giới, có giá trị kinh tế cao, nhiều loài dược liệu quí.
Kiểu phụ rừng thứ ba được ưu tiên bảo tồn là kiểu phụ rừng thứ sinh nhân tác sau khai
thác thuộc xóm Hang Kia của xã Hang Kia. Kiểu rừng này còn rất nhiều cá thể của các loài có
giá trị bảo tồn cao như Pơ mu Fokienia hodginsii, Bách xanh Calocedrus macrolepis, Re
hương Cinnamomum parthenoxylon, Thông đỏ bắc Taxus chinensis và Thông pà cò Pinus
kwangtungensis.
Kiểu phụ rừng thứ tư được ưu tiên bảo tồn là kiểu phụ rừng kín thường xanh mưa mùa
á nhiệt đới núi thấp trên núi đá vôi bị tác động mạnh thuộc xã Tân Sơn. Kiểu phụ rừng này
cũng là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên đa dạng thực vật rất cao, với đầy đủ các dạng sống
khác nhau. Nhiều loài cây quí hiếm cũng phân bố ở đây. Hiện nay, kiểu phụ rừng này vẫn
đang tiếp tục bị tác động. Đây là phần diện tích rừng trên núi đá vôi còn ít ỏi của xã Tân Sơn,
cần được ưu tiên bảo vệ môi trường sinh thái cảnh quan.
Các kiểu phụ rừng trên của Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò có ý nghĩa cao đối với công
tác bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, bảo tồn nguồn gen thực vật nguy cấp,
quí hiếm; phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo tồn môi trường sinh thái cảnh quan trong vùng
núi đá vôi.
Tuy nhiên, hiện tại các kiểu phụ rừng trên núi đá vôi vẫn đang bị khai thác mạnh ở
nhiều nơi, ngay cả trong vùng lõi của khu bảo tồn để phục vụ các mục đích dân sinh. Hai loài
cây quí hiếm là Trai lý Garcinia fagraeoides và Nghiến Excentrodendron tonkinense, đặc
trưng cho rừng trên núi đá vôi, thuộc nhóm IIA trong Nghị định 32/2006/CP, vẫn đang bị chặt
hạ rất nhiều. Nhiều vấn đề rất khó khăn hiện nay đang phải đối mặt trong công tác bảo tồn các
khu rừng ở Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò, phát sinh từ các nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên
nhiên của cộng đồng địa phương. Kiểm soát hiệu quả việc khai thác sử dụng tài nguyên thiên
nhiên là yêu cầu cấp bách nhằm bảo vệ đa dạng sinh học, cảnh quan môi trường sống trong
khu vực. Những nghiên cứu sâu hơn và việc giám sát những khu rừng ở Hang Kia – Pà Cò cả
về phương diện đa dạng sinh học cũng như bảo tồn chúng là hết sức cần thiết.
Trang 4

DỤNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Ô tiêu chuẩn và tuyến điều tra
Mô tả cấu trúc và thành phần loài của các loại thảm và quần xã thực vật khác nhau chủ
yếu được tiến hành theo các tuyến, từ thấp đến cao. Mô tả thảm thực vật dựa trên các quan sát
thực tế dọc theo các tuyến điều tra và mô tả chi tiết cấu trúc và thành phần loài tại 5 ô tiêu
chuẩn được lựa chọn tại các độ cao khác nhau trong các quần xã thực vật điển hình nhất.
Danh sách các tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn đã thiết lập được liệt kê trong Phụ lục 1.
Kích thước các ô tiêu chuẩn dao động từ 10 x 10 m khi mô tả những quần xã thực vật
bám trên vách đá, đến 20 x 50 m khi mô tả những trạng thái rừng có độ cao lớn. Kích thước
của ô tiêu chuẩn được lựa chọn phụ thuộc vào diện tích khu vực có cùng một kiểu thảm thực
vật. Các ô tiêu chuẩn được lựa chọn trong tất cả các quần xã thực vật chính gặp dọc theo các
tuyến điều tra. Đa số của các ô tiêu chuẩn được sử dụng cho việc mô tả kiểu thảm thực vật và
thành phần loài có kích cỡ là 20 x 25 m. Đối với mỗi ô tiêu chuẩn đã xác định vị trí địa lý, độ
cao so với mặt biển, hướng phơi và độ dốc. Tại mỗi ô tiêu chuẩn, các đặc điểm về đá mẹ đều
được mô tả ngắn gọn.
Cấu trúc thảm thực vật được mô tả đối với mỗi tầng riêng biệt bao gồm độ tàn che, và
thành phần loài. Các loại hình thái thực vật không tạo thành tầng như các loài bám trên cây,
trên đá, các dây leo cũng được mô tả. Số lượng cây và đường kính của chúng trong các tầng
cây gỗ cũng được chỉ ra trong khi mô tả các ô tiêu chuẩn. Đường kính các thân cây được đo ở
độ cao ngang ngực (khoảng 1,3 m trên mặt đất) bằng thước đo cao Blumleiss.
2. Mô tả thảm thực vật
Việc mô tả thảm thực vật được tiến hành theo bảng tiêu chuẩn. Theo bảng này, mỗi ô
tiêu chuẩn có các mục sau cần được mô tả:
- Tầng A1, A2, A3 (tầng cây gỗ): chiều cao cây (m), số lượng, đường kính ngang ngực
(cm), đường kính tán lá của mỗi cây, độ che phủ (%).
- Tầng B (tầng cây bụi): chiều cao cây (m); độ che phủ (%); các loài đồng ưu thế.
- Tầng C (tầng cây cỏ): chiều cao (m); độ che phủ (%).
- Thực vật ngoại tầng: bao gồm các loài dây leo, các loài phụ sinh khác.
3. Định tên cây
Các tài liệu sau đã được sử dụng trong qua trình điều tra và xác định tên cây:
1. "Flore Generale de l'Indochine" (Ed. M.H.Lecomte & H.Humbert, 1907-1951).
2. "An Illustrated Flora of Vietnam" (Pham Hoang Ho, 1999-2000).
Trang 5

3. “Flora of Taiwan” (Liu Tsang-Shui, Su Horng-Jye, 1978).
4. “Flora of China Illustrations” (Missouri Botanical Garden Press, 1994-2009).
5. “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” tập 2, 3 (Nguyễn Tiến Bân chủ biên, 2003-
2005).
6. “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” tập 1 (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh
vật - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên môi trường -
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001).
Trang 6

Phần I. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHÍNH
CỦA KHU BTTN HANG KIA – PÀ CÒ
Khu BTTN Hang Kia – Pà Cò nằm ở phía bắc huyện Mai Châu, phía tây tỉnh Hoà
Bình, giáp ranh với tỉnh Sơn La, ở vị trí từ 20
o
40

đến 20
o
45

vĩ độ bắc và từ 104
o
51’ đến
105
o
00’ kinh độ đông, trong địa giới hành chính 6 xã Hang Kia, Pà Cò, Tân Sơn, Bao La,
Phiềng Vế, Cun Pheo; có diện tích 7091 ha. Hiện nay, theo quy hoạch mới diện tích của Khu
bảo tồn là 5.257,77 ha, phần diện tích còn lại được quy hoạch rừng sản xuất. Về ranh giới:
Phía bắc giáp xã Chiềng Yên huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; Phía nam giáp các xã Bao La,
Phiềng Vế, Cun Pheo; phía đông giáp các xã Đồng Bảng, Nà Mèo của huyện Mai Châu; phía
tây giáp các xã Xuân Nha, Loóng Luông huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
Khu vực này có các đặc điểm chính về cấu trúc địa mạo là những thung lũng đất thấp,
những đỉnh núi đá vôi thấp bị bào mòn và những đỉnh núi đá vôi cao hơn. Đỉnh cao nhất tới
1536m ở phía tây bắc của khu vực, độ cao giảm dần về phía đông. Hầu hết Khu BTTN cao
trên 900 m.
Về cơ bản khí hậu khu vực này chia thành 2 mùa rõ rệt. Mùa nóng từ tháng 5 đến
tháng 8, nhiệt độ bình quân 15 đến 25
0
C. Mùa lạnh từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ
3-10
0
C, thỉnh thoảng tụt xuống 0
0
C. Độ ẩm mùa nóng 70%, mùa lạnh 55%. Lượng mưa trung
bình năm 1850-2000 mm, chủ yếu vào mùa nóng. Từ tháng 8 tới tháng 4 năm sau thường
xuyên có sương mùa. Mùa khô rất khan hiếm nước.
Địa chất của khu vực được đặc trưng bởi hệ thống núi đá vôi bị chia cắt mạnh. Địa
hình của vùng đã bị xói mòn tạo nên những quả núi có bề mặt gồ ghề giữa các thung lũng
tương đối bằng phẳng. Những thung lũng bằng phẳng có nhiều trong khu vực này, điển hình
nhất thuộc khu vực xã Tân Sơn, Pà Cò, Hang Kia. Loại hình địa mạo này đã mất rừng từ lâu,
hiện được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp và cư trú của cộng đồng địa phương. Thảm thực
vật tự nhiên còn sót lại của loại hình địa mạo này chỉ còn thấy ở một vài điểm thuộc vùng lõi
của Khu BTTN thuộc xã Pà Cò. Điển hình như khu vực ven quốc lộ 6. Xen kẽ những thung
lũng này là các dãy núi đá vôi bị chia cắt mạnh, hiểm trở. Ngoài ra, có một số núi đất hầu hết
thuộc xã Tân Sơn. Diện tích này được che phủ bởi lớp thảm thực vật nguyên sinh bị tác động
mạnh đến vừa. Hầu hết sườn thấp và trung bình của những đỉnh núi cao cũng đã mất đi thảm
thực vật nguyên sinh. Rừng nguyên sinh chỉ còn tồn tại ở sườn trên của các đỉnh núi.
Toàn bộ khu vực nghiên cứu thuộc kiểu rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp,
bao gồm các kiểu phụ thổ nhưỡng trên núi đá vôi, kiểu phụ thứ sinh nhân tác và kiểu phụ nuôi
trồng nhân tạo. Nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào kiểu phụ thổ nhưỡng trên núi đá vôi,
chiếm diện tích lớn nhất và quan trọng nhất để phòng hộ, bảo vệ cảnh quan, môi trường sống
và bảo tồn đa dạng sinh học.
Trang 7

Phần II. CÁC KIỂU THẢM THỰC VẬT
Ở KHU BTTN HANG KIA – PÀ CÒ
1. Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp trên núi đá
vôi bị tác động nhẹ đến vừa
Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp trên đá vôi bị tác động
nhẹ đến vừa tập trung ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Khu BTTN thuộc các xã Pà Cò,
Cun Pheo, Bao La và Hang Kia. Ở những nơi rừng bị tác động nhẹ thì có cấu trúc 3 tầng cây
gỗ (ô tiêu chuẩn 3, 4, 5). Còn lại hầu hết thảm thực vật rừng ở đây có cấu trúc 2 tầng cây gỗ,
tầng A1 không rõ. Đá mẹ ở đây là loại đá vôi kết tinh cứng.
Bảng 1. Vị trí các ô tiêu chuẩn của kiểu phụ rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa á
nhiệt đới trên núi đá vôi bị tác động nhẹ đến vừa
Ô tiêu
chuẩn
Vị trí Toạ độ địa lý
Độ cao
(m)
Độ dốc Người điều tra
3 Xã Pà Cò
N20
0
44.587’
E104
0
56.122’
1043 35
o
Phùng Văn Phê
4 Xã Cun Pheo
N20
0
42.943’
E104
0
54.949’
868 30
o
Phùng Văn Phê
5 Xã Pà Cò
N20
0
44.550’
E104
0
56.305’
993 35
o
Phùng Văn Phê
Mô tả cấu trúc rừng:
Tầng vượt tán A1. Tầng vượt tán của kiểu phụ rừng kín lá rộng thường xanh mưa
mùa á nhiệt đới núi thấp trên núi đá vôi này cao từ 25-30m, đường kính từ 40-60 cm. Tầng
này tán nhấp nhô không liên tục. Độ tàn che của tầng rừng này khoảng 15-20%. Ở các đỉnh
núi xa dân cư, địa hình chia cắt mạnh, loài cây tham gia vào tầng vượt tán này bao gồm
Nghiến Excentrodendron tonkinense, Sâng Pometia pinnata, Cà lồ Caryodaphnopsis
tonkinensis, Gội Aphanamixis sp., Trai lý Garcinia fagraeoides, Mang cụt Pterospermum
truncatolobatum, Cui rừng lá to Heritiera macrophylla, Nhãn rừng Dimocarpus fumatus. Ở
những khu vực gần dân cư hơn, đi lại thuận lợi thì tầng này thường hiếm thấy loài Nghiến
Excentrodendron tonkinense, mà chủ yếu vẫn là Trai lý Garcinia fagraeoides, Sâng Pometia
pinnata, Gội Aphanamixis sp., Cà lồ Caryodaphnopsis tonkinensis, Thị rừng Diospyros sp.,
Nhãn rừng Dimocarpus fumatus.
Tầng A2. Các loài cây của tầng ưu thế sinh thái A2 của kiểu phụ rừng kín lá rộng
thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp trên núi đá vôi này cao từ 15-20 m, đường kính 25-
40 cm. Độ che phủ thông thường là 30-60%. Ngoài các loài cây của tầng A1 có mặt ở đây còn
có các loài Thích bắc bộ Acer tonkinense, Gội Aglaia sp., Chắp tay bắc bộ Exbuklandia
Trang 8

tonkinensis, Re Cinnamomum sp., Bứa Garcinia sp., Cui rừng Heritiera sp., Sồi dẻ
Lithocarpus sp., Nhọc Polyalthia cerasoides, Sảng Sterculia sp., và một vài loài thuộc họ
Anacardiaceae, Lauraceae và Meliaceae. Ngoài ra, rừng ở khu vực Cun Pheo tầng này còn có
sự tham gia của loài Thông tre lá dài Podocarpus neriifolius.
Tầng A3. Tầng thứ 3 này được tạo thành bởi các cây cao từ 6-15 m và có đường kính
trung bình khoảng 10-15 (20) cm. Tầng rừng này có độ che phủ 20-35%. Ngoài các loài cây
của hai tầng A1 và A2 ở trên, tầng này còn xuất hiện một số loài thuộc các họ Araliaceae,
Ebenaceae, Apocynaceae, Fagaceae, Sterculiaceae, Magnoliaceae, Theaceae, Lauraceae,
Meliaceae. Những loài phổ biến nhất trong tầng rừng này là Chân chim Schefflera sp., Re
Cinnamomum spp., Dẻ cau Quercus sp., Trà Camellia sp., Bộp lông Actinodaphne pilosa.,
Súm Eurya sp., Bời lời Litsea spp., Nhọc Polyalthia cerasoides, Lòng mang Pterospermum
heterophyllum, Teo nông Streblus tonkinensis và các loài Trâm Syzygium spp., cũng như các
loài của họ Anacardiaceae và Annonaceae.
Tầng B (Tầng cây bụi). Các cây bụi mọc rất phổ biến trong kiểu phụ rừng kín lá rộng
thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp trên núi đá vôi. Chúng tạo nên một tầng cao 2-6 m
với độ che phủ (10) 15-20%. Những loài cây ưu thế và những loài đi kèm với chúng ở đây
bao gồm Trọng đũa Ardisia quinquegona, Bồ cu vẽ Breynia fruticosa, Đơn nem Maesa spp.,
Thường sơn Dichroa spp., Đắng cẳy Clerodendrum cyrtophyllum, Lấu Psychotria rubra, Lụi
Rhapis spp., Vú bò Ficus simplicissima, v.v.
Tầng C (Tầng cây cỏ). Nhiều loài cây cỏ được thấy ở trong kiểu phụ rừng kín lá rộng
thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp trên núi đá vôi này. Tầng cỏ này có thể che phủ tới
(5) 15-20% bề mặt rừng và cao tới 1,5 -2 m. Các loài cây đi kèm bao gồm các loài Dương xỉ
như: Dớn đen Adiantum flabellulatum, Tóc thần vệ nữ Adiantum cappinus-veneris, Dương xỉ
thân gỗ Cyathea sp., Cỏ seo gà Pteris spp., và các loài thực vật có hoa khác như Sẹ Alpinia
globosa, Riềng rừng Alpinia sp., Gối hạc Leea rubra, Mía dò bắc bộ Costus tonkinensis, Cỏ
lòng thuyền Curculigo gracilis, các loài Cao cẳng Ophiopogon spp., các loài Nghể, Thồm lồm
Polygonum spp.
Thực vật ngoại tầng:
Thực vật sống phụ sinh trên cây. Thực vật phụ sinh trong kiểu phụ rừng kín lá rộng
thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp trên núi đá vôi khá đa dạng và phổ biến. Chúng
mọc trên tán lá của các cây to thuộc tầng A1và tạo nên quần xã cây phụ sinh phổ biến tại đây.
Các loài Dương xỉ, các loài trong họ Araceae, Orchidaceae là những thành phần phổ biến
nhất. Điển hình như Tổ phượng Asplenium nidus, Tắc kè đá Drynaria bonii, Lưỡi mèo tai
chuột Pyrrosia adnascens, Cơm lênh Pothos repens, Ráy leo Pothos sp., Kiếm lan
Cymbidium lancifolium.
Thực vật mọc bám trên đá. Thực vật mọc bám trên đá trong kiểu rừng này không phổ
biến. Chỉ có một số loài Thu hải đường Begonia spp. Những loài khác tại đây khá hiếm.
Trang 9

Dây leo. Trong kiểu phụ rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp
trên núi đá vôi này không bắt gặp nhiều lắm các loài dây leo. Một số loài dây leo Ráy leo
Pothos sp., Dây móng bò Bauhinia sp., Sống rắn Caesalpinia latisiliqua., Dây củ nâu
Dioscorea sp., Trầu không rừng Piper spp., Kim cang Smilax spp., và một vài loài của các họ
Annonaceae, Fabaceae và Vitaceae.
2. Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp trên núi đá
vôi bị tác động mạnh
Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp trên đá vôi bị tác động
mạnh tập trung ở phân khu phục hồi sinh thái của Khu BTTN thuộc các xã Tân Sơn, Hang
Kia, Pà Cò. Hiện nay, chúng đang bị khai thác mạnh phục vụ các mục đích dân sinh. Loại
rừng này phân bố ở sườn hoặc đỉnh các núi thấp ở gần khu dân cư.
Bảng 2. Vị trí các ô tiêu chuẩn của kiểu phụ rừng kín thường xanh mưa mùa á
nhiệt đới trên núi đá vôi bị tác động mạnh
Ô tiêu
chuẩn
Vị trí Toạ độ địa lý
Độ cao
(m)
Độ dốc Người điều tra
1 Xã Tân Sơn
N20
0
42.731’
E105
0
00.044’
925 30
o
Phùng Văn Phê
2 Xã Hang Kia
N20
0
44.797’
E104
0
54.009’
1233 35
o
Phùng Văn Phê
Cấu trúc rừng thường có 2 tầng cây gỗ. Chỉ lác đác một số điểm, trên đỉnh các núi cao,
địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, đi lại khó khăn thì có các cây gỗ lớn phân bố, thậm chí có
một số loài thực vật quí hiếm như Nghiến Excentrodendron tonkinense và rừng có cấu trúc 3
tầng cây gỗ (Thung Ẳng, xã Hang Kia). Loại đá mẹ dưới bề mặt rừng của kiểu rừng này là
loại đá vôi kết tinh cứng màu nâu đen.
Mô tả cấu trúc rừng:
Tầng A1. Các loài cây của tầng này thường có chiều cao từ 25-30m, đường kính trung
bình từ 40-50 cm. Chúng phân bố rải rác, tạo nên tầng tán không liên tục. Tham gia vào tầng
này còn nhiều loài cây gỗ lớn khác thuộc các họ Euphorbiaceae, Anacardiaceae,
Sterculiaceae, Ebenaceae, Combretaceae, Moraceae, Sapindaceae, Meliaceae, Tiliaceae như
Nhội Bischofia javanica, Vạng trứng Endospermum chinense, Nhãn rừng Dimocarpus
fumatus, Sâng Pometia pinnata, Chò nhai Anogeissus acuminata, Nghiến Excentrodendron
tonkinense, Gội nếp Aglaia spectabilis, Cui rừng lá to Heritiera macrophylla, Lòng mang
Pterospermun heterophyllum, Sảng nhung Sterculia lanceolata, Thị rừng Diospyros spp.
Tầng A2. Các loài cây của tầng ưu thế sinh thái của kiểu phụ rừng kín thường xanh
mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi bị tác động mạnh này thường cao từ 15-20 m, đường kính
từ 20-30 cm. Độ tàn che tới 70%, có nơi đến 80%. Tham gia vào tầng ưu thế sinh thái này có
Trang 10

các loài như Nhội Bischofia javanica, Mọ Deutzianthus tonkinensis, Nhãn rừng Dimocarpus
fumatus, Sâng Pometia pinnata, Chò nhai Anogeissus acuminata, Trai lý Garcinia
fagraeoides, Gội nếp Aglaia spectabilis, Dâu da xoan Allospondias lakonensis, Lòng mang
Pterospermun heterophyllum, Sảng Sterculia lanceolata, Thị rừng Diospyros spp., Đa Ficus
sp., Cà lồ bắc bộ Caryodaphnopsis tonkinensis, Mò Cryptocarya sp., Trâm trắng Syzygium
wightianum. Ngoài ra, còn có các loài khác tham gia tạo nên bộ mặt của tầng này như Chòi
mòi Antidesma sp., Dẻ gai ấn độ Castanopsis indica, Re Cinnamomum sp., Bứa Garcinia sp.,
Nhọc Polyalthia cerasoides, Côm Elaeocarpus sp., Đại phong tử Hydnocarpus
anthelminthica, cũng như vô số các đại diện của các họ như Euphorbiaceae, Fabaceae,
Lauraceae, Meliaceae, Rubiaceae, Sapindaceae, Elaeocarpaceae và Theaceae.
Tầng A3. Các loài cây của tầng ưu thế sinh thái của kiểu phụ rừng kín thường xanh
mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi bị tác động mạnh này thường là 5-10 m. Gồm các cây có
đường kính khoảng 10-15 cm, chúng tạo nên tán có độ che phủ 25-40%. Những loài cây mọc
trong tầng rừng này là Bách bệnh Eurycoma longifolia, Phân mã Archidendron balansae, Re
Cinnamomum spp., Súm Eurya sp., Bời lời Litsea spp., Lòng mang Pterospermum
heterophyllum, Chân chim Schefflera spp., Trâm Syzygium spp., Chanh rừng Zanthoxylum
spp., cũng như các loài khác thuộc các họ Annonaceae, Euphorbiaceae, Lauraceae,
Rubiaceae, Ebenaceae, Mimosaceae, Dilleniaceae, Meliaceae, Moraceae, và Theaceae. Ngoài
ra có một số cây chưa trưởng thành của các tầng trên có thể được quan sát thấy trong tầng
rừng này như: Gội Aglaia sp., Nhãn rừng Dimocarpus longan và Cui rừng Heritiera
macrophylla.
Tầng B (tầng cây bụi). Các loài cây của tầng ưu thế sinh thái của kiểu phụ rừng kín
thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi bị tác động mạnh này cao 1,5-5 m. Độ che
phủ của tầng rừng này giới hạn trong khoảng 10-20%. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp
độ che phủ có thể nhỏ hơn 5% hoặc lên đến 30%. Các loài phổ biến nhất của tầng này thuộc
các họ Acanthaceae, Euphorbiaceae, Moraceae, Urticaceae, Fabaceae, Malvaceae, Rubiaceae,
Myrsinaceae, Sapindaceae, Arecaceae, v.v. Các loài cây bụi chủ yếu ở đây như Bồ cu vẽ
Breynia fruticosa, Lộc mại Claoxylon hainanense, Bọt ếch Glochidion hirsutum, các loài Mua
Melastoma spp., Trọng đũa tuyến Ardisia quinquegona, các loài Đơn nem Maesa spp., Xẻn
gai Zanthoxylum avicenniae, Đắng cảy Clerodendrum cyrtophyllum, Lụi Rhapis spp., Cau
rừng Pinanga paradoxa, Han rừng Laportea spp., Chàm núi Strobilanthes multangulus.
Tầng C (Tầng cỏ). Mật độ cây dạng cỏ bao phủ bề mặt rừng của kiểu phụ rừng kín
thường xanh mưa mùa á nhiệt đới trên núi đá vôi bị tác động mạnh phụ thuộc trực tiếp vào độ
ẩm tại đây. Nó có thể che phủ tới 70% bề mặt các sườn ẩm của các thung lũng và có thể là
hầu như không có tại các sườn nam khô và dốc. Chiều cao của tầng cây thảo trong kiểu phụ
rừng này từ 0,2 đến 1,5 m. Những cây thân thảo phổ biến nhất ở đây là: Sẹ Alpinia globosa,
Trọng đũa tuyến Ardisia quinquegona, các loài Thu hải đường Begonia spp., các loài Cao
cẳng Ophiopogon spp., Chàm núi Strobilanthes multangulus, Ráy Alocasia macrorhiza, Lụi
Rhapis cochinchinensis, các loài Nghể Polygonum spp. Các loài Dương xỉ cũng rất phổ biến
Trang 11

tại đây như Dớn đen Adiantum flabellulatum, Cỏ luồng Pteris ensiformis, Ráng seo gà Pteris
sp., Quyển bá Selaginella spp., Ráng yểm dực Tectaria spp.
Thực vật ngoại tầng:
Thực vật sống bám và nửa sống bám trên cây: Mức độ phong phú của dạng thực vật
này trong kiểu phụ rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới trên núi đá vôi bị tác động
mạnh phụ thuộc vào độ ẩm nơi chúng sống. Thông thường, trên những sườn nam dốc có độ
cao thấp và trung bình, chúng rất hiếm và không tạo nên bất kì quần xã quan trọng nào. Tuy
nhiên, trên những sườn ẩm ướt của các thung lũng hẹp chúng rất đa dạng và phong phú. Tại
những nơi như vậy, chúng tạo thành những đám lớn rất dễ nhận thấy trên tán và trên thân của
những cây gỗ to. Lan và Dương xỉ là các loài thực vật bậc cao sống bì sinh phổ biến nhất
trong kiểu rừng này. Các loại Dương xỉ: Tổ phượng Asplenium nidus, Tổ điểu Asplenium
spp., Lưỡi mèo tai chuột Pyrrosia adnascens, Cốt toái bổ Drynaria fortunei. Các loài phụ sinh
phổ biến khác được thấy ở đây là các loài dây Trầu rừng Piper spp., Ráy leo Pothos spp.
Các loài mọc bám trên đá: mức độ phong phú và đa dạng của thực vật bám trên đá
phụ thuộc vào độ ẩm nơi sống. Các loài thực vật bậc cao sống bám trên đá cũng rất phổ biến.
Các loài quan trọng nhất được quan sát thấy ở đây là: Tóc thần Adiantum spp., Thu hải đường
Begonia spp., Ráy leo Pothos sp., Lưỡi mèo tai chuột Pyrrosia adnascens.
Các loại dây leo: Một loại dây leo thân gỗ hạt trần cũng hay gặp ở đây là Dây gắm
Gnetum montanum. Có rất nhiều loại dây leo khác nhau mọc ở trong kiểu rừng này. Theo các
dạng sống, các loại dây leo có thể được phân chia thành 3 nhóm chính: dây leo gỗ, dây leo
thân thảo và dây leo kí sinh. Các loài dây leo gỗ quan trọng nhất ở đây là Dây móng bò
Bauhinia sp., Dây sống rắn Caesalpinia sp., Dây sưa Dalbergia sp., Bàm bàm Entada
phaseoloides, Dây cậm cang Smilax spp., Dây mã tiền Strichnos sp., cũng như các loài khác
thuộc các họ Apocynaceae, Asclepiadaceae, Celastraceae, Fabaceae, Menispermaceae và
Rubiaceae. Các dây leo thân thảo thường ngắn hơn và mọc điển hình ở các vách đá quang
đãng. Nhóm này bao gồm các đại diện của các họ Convolvulaceae và Cucurbitaceae. Tại
những nơi sống ẩm hơn thì có các loại dây Trầu rừng Piper spp., Ráy leo Pothos spp.
3. Kiểu phụ rừng thứ sinh nhân tác
Tuỳ theo mức độ tác động của con người ở các khu vực khác nhau mà thành phần các
loài cây của tầng cây gỗ A2 (ưu thế sinh thái) và tầng cây bụi, tầng cây cỏ, dây leo có sự thay
đổi. Về cấu trúc, rừng thường chỉ có một tầng cây gỗ nhấp nhô không đều nhau ở các cấp tuổi
khác nhau. Diện tích rừng này còn khá nhiều, phân bố trong các xã Hang Kia, Pà Cò, Tân Sơn
thuộc phân khu phục hồi sinh thái của Khu BTTN.
Tầng A2. Chỉ có lác đác một số cây gỗ to, cao còn sót lại trên đường dông và đường
đỉnh như Thông pà cò Pinus kwangtungensis. Thành phần cây gỗ ở tầng này hầu hết là lớp
cây ưa sáng mới được bổ sung thuộc các họ Euphorbiaceae, Clusiaceae, Lauraceae,
Rubiaceae, Fagaceae, Elaeocarpaceae, v.v. làm cho rừng có kết cấu mới. Chiều cao trung bình

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét