BẢN TIN KHOA HỌC
Số 19/Quý III/Năm 2012
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI
| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP. Đà Nẵng
5
là pháp trị chủ nghĩa), một trong hai bài viết cuối cùng của ông, đồng thời cũng là một
trong hai bài viết được ông phát biểu chính thức với quốc dân đồng bào sau mười bốn năm
lăn lộn trên đất Pháp. Qua bài diễn thuyết, Phan Châu Trinh muốn giải thích cho mọi người
hiểu rõ thế nào là chủ nghĩa quân chủ, chủ nghĩa dân chủ, cũng như lợi hại của mỗi chủ
nghĩa.
2.1. Trong phần nói về dân chủ, Phan Châu Trinh trình bày ba nội dung: tình hình
dân trí nước ta đối với vấn đề quân chủ, dân chủ; lược sử chế độ dân chủ; và thế nào là
chính thể dân chủ. Ở nội dung thứ nhất, đánh giá tình hình dân trí nước ta đối với vấn đề
quân chủ, dân chủ, Phan Châu Trinh đã so sánh trong khi các nước bên Âu châu, nước nào
cũng có đảng dân chủ ở trong thượng, hạ nghị viện cả, duy nước ta, ngay những người có
ăn học thì cái chữ “republique” (cộng hòa) luôn ở trên miệng, nhưng không hiểu nghĩa lý
ra thế nào huống chi người dân quê, đã không biết dân chủ là gì đối với vua thì thờ ơ như
thần thánh. Từ đó ông phân tích rằng, vì cái độc quân chủ dân chỉ biết vua mà không biết
nước nên phải “đem cái tụi bù nhìn ở Huế đó vứt hết cả đi”. Trong phần lược sử chế độ
dân chủ, Phan Châu Trinh đã nêu lên một cách khái quát hai hình thức dân chủ trong lịch
sử, đó là nền dân chủ chủ nô thời Hy Lạp cổ đại và dân chủ tư sản Anh quốc. Ở đây, ông
chưa phân tích bản chất, đặc tính và những nguyên tắc của từng hình thức dân chủ đó, mà
chỉ mới giới thiệu về sự tồn tại những “cái hội” mà “phàm những luật vua quí tộc đã đặt ra
thì phải giao hội ấy xem xét, có bằng lòng thì mới được làm”.
Trong hệ thống tư tưởng chính trị của mình, Phan Châu Trinh đã hình thành quan
niệm về mô hình chỉnh thể Việt Nam trong tương lai. Do những điều kiện khách quan và
chủ quan, tư tưởng của Cụ Phan về mô hình chính thể có nhiều sự khác biệt, cũng như có
sự chuyển biến qua các thời kỳ hoạt động Duy tân , cách mạng. Nhìn chung Cụ Phan đã
nhận thấy ưu việt của chủ nghĩa dân trị so với quân trị, ra sức kêu gọi đồng bào hiểu thấu
mọi lẽ, đồng lòng góp sức lo toan việc nước.
Sau thất bại của phong trào Đông du, quan điểm chung khá phổ biến trong tư tưởng
Nho sĩ Duy tân nói chung, trong đó có Phan Châu Trinh là xóa bỏ chính thể quân chủ, xây
dựng chính thể Dân chủ cộng hòa gồm có ba Viện, do nhân dân làm chủ, quyền lực ở nơi
dân và được thực hiện thông qua các đại biểu, mọi việc đều do dân định đoạt. Phan Châu
Trinh nhất trí đề cao mô hình xã hội được quản lý bằng pháp luật. Ông đề cao hiến pháp,
coi hiến pháp là công cụ pháp lý để hạn chế quân quyền độc tôn và hà lạm của chế độ quân
chủ chuyên chế phương Đông. Phan Châu Trinh cho rằng “"lấy theo ý riêng một người hay
một triều đình mà trị một nước, thì cái nước ấy không khác gì một đoàn chiên, được ấm no
vui vẻ hay là phải đói lạnh khổ sở, là tuỳ theo lòng rộng hay hẹp của người chăn chiên.
Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị, thì tự quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ
quan để lo chung cho mọi người”
4
. Hiến pháp phải gắn liền với chủ quyền của quốc gia,
với độc lập dân tộc. Sau hiến pháp là các đạo luật văn minh, pháp luật do nhân dân quyết
định, phản ánh nguyện vọng của nhân dân. Lấy mẫu mực là nền dân chủ ở nước Pháp lúc
bấy giờ, ông phân tích quan hệ giữa Tổng thống và Nghị viện đặt trên cơ sở Hiến pháp.
Chính Hiến pháp xây dựng và bảo vệ sự ổn định của chế độ dân chủ pháp trị: "Khi Tổng
4
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang. 783.
BẢN TIN KHOA HỌC
Số 19/Quý III/Năm 2012
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI
| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP. Đà Nẵng
6
thống đã được bầu cử rồi, thì phải thề trước hai viện ấy: "Cứ giữ theo hiến pháp dân chủ,
không phản bạn, không theo đảng này chống đảng kia, cứ giữ công bình, nếu có làm bậy,
thì dân nó truất ngay. Trước thì có Macmahon, sau thì có Mil1erand bị cách chức cũng vì
vi phạm hiến pháp"
5
.
Tuy được gọi là người đề xướng tư tưởng dân quyền sớm nhất nước ta, nhưng đối
với vấn đề này, thật ra Phan Châu Trinh chưa có dịp để trình bày một cách thấu đáo, sâu
sắc. Chính tác giả cũng đã nói đến chỗ hạn chế trong ấy trong phần đầu bài diễn thuyết của
mình: “cái đề mục đó thật là lớn lao quá, không phải sức tôi có thể giải thuyết ra cho minh
bạch được. Muốn giải thuyết ra cho minh bạch, thì phải tính về Âu Á lịch sử chính trị học
và chính trị triết học mới có thể nói ra cho tinh tường được. Các anh em cô bác có lạ gì tôi,
cái học về đường lịch sử Tàu thì tôi cũng hiểu được chút đỉnh, còn về đường Tây học thì
thực là kém lắm”
6
.
2.2. Về chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc, Phan Châu Trinh là một nhà yêu
nước lớn, đồng thời với Phan Bội Châu nhưng biện pháp cứu nước của hai ông không
giống nhau, nhất là con đường thực hiện giành lại chủ quyền cho quốc gia, giải phóng dân
tộc Nếu Phan Bội Châu yêu nước bằng chủ trương bạo động để giành độc lập, thì Phan
Chu Trinh trái lại, ông phản đối chủ trương bạo động cách mạng và đi cầu viện nước ngoài
để giành độc lập. ông muốn nhờ vào chính quyền thực dân Pháp mà làm chính trị công
khai để “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh", để từ đó giành lại chủ quyền cho đất
nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Chủ trương cơ bản của Phan Chu Trinh là: "ỷ Pháp
cầu tiến bộ" tức là dựa vào thực dân Pháp mà cầu tiến bộ để từ đó tranh đấu với Pháp về
các mặt kinh tế, văn hoá, chính trị. Chủ trương ấy gọi là "Pháp - Việt đề huề". Nhận xét về
tư tưởng của Phan Chu Trinh, trong Phan Bội Châu niêu biểu, Phan Bội Châu đã viết: "Cụ
thì muốn đánh đổ quân chủ, mà cốt vun trồng lấy nền tảng dân quyền, dựa vàn Pháp mà
đánh đổ quân chủ. Còn ý tôi thì trước muốn đánh đổ người Pháp, chờ nước mình độc lập
rồi, mới bàn đến việc khác. Vì thế mà đương lúc đánh với Pháp, phải lợi dụng quân chủ
( ) Cụ thì muốn đi theo lối dựa Pháp đánh đổ vua, tôi ưng đi theo lối bài Pháp phục Việt,
sở dĩ mâu thuẫn với nhau là vì thế”
7
. Phan Chu Trinh đề xướng và lãnh đạo phong trào
Duy tân . Ông có ý định thiết lập ở Việt Nam một chế độ dân chủ tự trị. Tự trị nghĩa là tách
khỏi sự cai trị của thực dân Pháp. Trong Pháp - Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam, Phan
Chu Trinh viết: 'Tôi đã chủ trương tự trị, tin cậy Pháp. Đã muôn cậy Pháp ắt không lợi
dung lòng dân oán Pháp (…). Tôi đã chủ trương cậy Pháp thì thủ đoạn không thể do tự trị
mà ra. Tự trị cũng chẳng là việc dễ lắm đâu, việc hỏng ắt cũng chết”
8
.
Như vậy, chủ trương của Phan Chu Trinh là dựa vào Pháp để tự trị, còn Phan Bội
Châu thì bài Pháp để độc lập. Mặc dù Phan Chu Trinh chưa có lần nào giải thích rõ ý nghĩa
của chế độ "tự trị" ấy, nhưng qua con đường tranh đấu của ông cũng cho phép xác định
được nội dung "tự trị" ấy là tự cai trị mình, tách khỏi sự thống trị của thực dân Pháp, tự trị
cũng nguy hiểm như độc lập. Cho nên một tài liệu của Phủ Toàn quyền Đông Dương đã
5
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang. 815 - 816.
6
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang. 795.
7
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang. 116.
8
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang. 541 - 543.
BẢN TIN KHOA HỌC
Số 19/Quý III/Năm 2012
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI
| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP. Đà Nẵng
7
viết: "Mặc dầu khuynh hướng có vẻ khác nhau ở bên ngoài như thế, người ta vẫn phải công
nhận rằng các hoạt động kia khớp với nhau chặt chẽ và đều nhằm mục đích cuối cùng là
đánh đuổi người nước ngoài đi"
9
.
2.3. Về vị trí và vai trò của nhân dân, Phan Châu Trinh cho rằng, trong một nước thì
dân đứng vị trí quan trọng nhất. Tư tưởng dân là chủ nước, nước là chủ của dân chống lại
tư tưởng “tôn quân quyền”, đối lập hoàn toàn với quan điểm Nho giáo, là một bước chuyển
tư tưởng căn bản từ quân chủ sang dân chủ. Đây là điều mới mẻ trong tư tưởng chính trị
của Phan Châu Trinh so với đương thời, là một bước tiến vượt bậc so với tư tưởng chính trị
thời kỳ phong kiến hàng ngàn năm. Xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, lòng thương xót nỗi
cơ cực của dân, dựa trên tư tưởng nhân văn sâu sắc. Phan Châu Trinh cho rằng, mục đích
của chế độ tự trị là nhân dân được làm chủ về mặt chính trị, được thực hiện các quyền công
dân một cách tự do, ví dụ như các quyền cơ bản: tự do hội hè, tự do ngôn luận, tự do suy
nghĩ… Nền dân chủ mà Phan Châu Trinh muốn xây dựng là nền dân chủ từ bên dưới đi lên
nghĩa là dân có vị trí, vai trò quan trọng nhất. Dân trí có nâng lên, dân khí được chấn hưng,
dân sinh được phồn thịnh, dân tộc được tự cường, xã hội văn minh theo Phan Châu Trinh,
là điều kiện đảm bảo cho một nền dân chủ thực chất, thay thế quân chủ. Như vậy, dân chủ
gắn liền với tự do, tự do được bảo đảm bởi dân chủ. Ông viết: “Một nòi dân cùng một giọt
máu xẻ ra, cùng một thứ tiếng nói, ở trong miếng đất mà ông cha ta nó đã đổ máu, đổ mồ
hôi, đổ nước mắt, để vỡ vạc ra, thành ra một nước lưu truyền bốn ngàn năm đến giờ, thì
được phép hưởng quyền lợi trong miếng đất ấy, được sống ở đó, chết chôn đó, giàu nhờ đó,
nghèo nương đó, làm gì thì không ai cấm đoán được”
10
.
Nhằm làm cho nhân dân hiểu được quyền làm chủ của mình, Phan Châu Trinh đã tích
cực truyền bá nội dung về quyền và nghĩa vụ của nhân dân. Mục đích là làm cho mọi người
nhận thức được cái mà ông gọi là đạo đức luân lý, hay là những quan hệ về quyền lợi và
nghĩa vụ của người dân trong gia đình, quốc gia và xã hội. Theo ông đạo đức luân lý có sự
phát triển từ thấp lên cao: luân lý gia đình, luân lý quốc gia, luân lý xã hội. Dân tộc ta bị
hèn yếu chỉ vì hiểu biết hạn hẹp trong quan hệ vua – tôi, không hề biết được quan hệ nước
với dân, cho nên, nhân dân không hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Ông viết: “…
cho nên dân trong nước không biết quyền dân là gì, thương nước là gì, nghĩa vụ là gì?”
11
.
Hạn chế trong luân lý xã hội là nhân dân không hề biết đoàn thể là gì, tổ chức là gì, nguyên
nhân này là từ chế độ phong kiến. Ông viết: “Dân không biết đoàn thể, không trọng công
ích là bởi ba bốn trăm năm trở về đây, bọn học trò trong nước mắc ham quyền tước, ham
bã vinh hoa của các triều vua mà sinh ra giả dối nịnh hót, chỉ biết vua mà chẳng biết có
dân”
12
. Cho nên, phải khơi dậy tinh thần dân tộc, vì trước đây, dân tộc ta rất hào hùng và
đoàn kết, biết bênh vực nhau. Ông nói: “… dân tộc Việt Nam này hồi cổ sơ cũng biết đoàn
thể, biết công ích, cũng góp gió làm bão, giụm cây làm rừng, không đến nỗi trơ trọi, lơ láo,
ù lỳ như ngày nay”
13
. Từ việc nhận thức đúng thực trạng rệu rã của dân tộc trong mấy trăm
9
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang 44.
10
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang 74.
11
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang 772.
12
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang 777.
13
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang 777.
BẢN TIN KHOA HỌC
Số 19/Quý III/Năm 2012
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI
| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP. Đà Nẵng
8
năm chế độ phong kiến, Phan Châu Trinh cho rằng phải truyền bá những đạo đức luân lý
xã hội vào nhân dân, thức tỉnh nhân dân làm cho dân hiểu, dân biết quyền lợi và nghĩa vụ
của mình với nước, với dân tộc. Ông viết: “Nay muốn một ngày kia nước Việt Nam được
độc lập tự do thì trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thể đã. Mà muốn có đoàn thể thì có
chi hay hơn là truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này”
14
. Do đó, tư tưởng dân
chủ Phan Châu Trinh có giá trị nổi bật chính là làm cho nhân dân nhận thức được vai trò
dân chủ. Ông cũng như Phan Bội Châu, đều có quan niệm về mối quan hệ dân với nước,
quốc quyền với dân quyền, ông viết: “Gọi là nước, thì phải có đất đai, có nhân dân”
15
. Đó
là mối quan hệ biện chứng nổi bật nhất trong tư tưởng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX ở
nước ta. Vậy để nhân dân hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình thì cách mạng Việt
Nam phải làm gì?
Trước hết phải xây dựng một luân lý quốc gia mới, không thể dựa vào tư tưởng
truyền thống quân chủ chuyên chế, Phan Châu Trinh cho rằng, phải kết hợp truyền thống
với hiện đại, dân tộc với thế giới. Ông viết: “Nếu ta giữ một ít đạo đức của ta, thâu thái một
ít đạo đức của Âu đem điều hòa lại, rồi khuyếch trương luân lý, nghĩa là khiến dân Việt
Nam ai ai cũng đều biết nghĩa vụ đối với nước Việt Nam. Được như thế thì chẳng những
nước Việt Nam sau này được giàu mạnh, mà trong thế giới này bất kỳ dân tộc nào muốn
đến ăn chung ở đậu trên miếng đất này cũng không giám đem lòng khinh dễ ta như ngày
nay nữa”
16
. Từ đó, chúng ta thấy tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh có bước phát triển
cao hơn so với trước đó. Nếu trước đây, tư tưởng dân chủ chỉ dừng lại ở việc đối lập dân
chủ với quân chủ một cách chung chung thì đến đây, tư tưởng dân chủ gắn liền với độc lập
dân tộc, gắn liền với những quyền cụ thể của người dân Việt Nam, gắn liền với phạm trù
xã hội mang tính phổ biến, chứ không hạn hẹp trong phạm trù quốc gia, phạm trù dân chủ
tư sản. Điều này, thể hiện sự phát triển, chuyển biến tư tưởng của Phan Châu Trinh và cũng
là tiền đề căn bản để ông đến gần chủ nghĩa Mác – Lênin.
Điểm mâu thuẫn trong tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh là một mặt ông đề
cao vai trò của dân chủ, dân quyền xuất phát từ nguyện vọng của dân, nhưng mặt khác ông
lại kiên định với chủ trương dựa vào Pháp với tư cách đang là đế quốc xâm lược, nô dịch
Việt Nam để thực hiện dân chủ. Phan Châu Trinh đã hết lời ca ngợi nền dân chủ của Pháp:
“Pháp luật dựa Lang sa làm chủ”, nền dân chủ theo Phan Châu Trinh hiểu là dành cho tất
cả mọi người. Vì mâu thuẫn như vậy nên tính hiện thực của tư tưởng đó là rất thấp và trên
thực tế, chính quyền Pháp chưa bao giờ coi ông là đồng minh trong cuộc “khai hóa văn
minh” ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng.
3. Có thể nói, ở nước ta vào đầu thế kỷ XX, Phan Châu Trinh là người sớm nhận
thức được giá trị tư tưởng canh tân và sớm đến với tư tưởng dân chủ tư sản. So với Phan
Bội Châu thì sự bứt phá của ông đối với hệ tư tưởng phong kiến là khá mạnh mẽ và dứt
khoát. Từ khi tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, Phan Châu Trinh tích cực chủ xướng học
thuyết này và thu hút lực lượng tham gia, gồm những nhà Nho học tiến bộ như Huỳnh
Thúc Kháng, Trần Quý Cáp. Cho nên, nước ta những năm đầu thế kỷ XX bắt đầu xuất hiện
14
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang 797
15
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang 553.
16
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang 791.
BẢN TIN KHOA HỌC
Số 19/Quý III/Năm 2012
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI
| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP. Đà Nẵng
9
phong trào dân chủ tư sản do các nhà Nho được tư sản hóa. Khi sang Pháp (1911), Phan
Châu Trinh tiếp tục nghiên cứu tư tưởng dân chủ tư sản và ông càng thấy rằng việc thay
đổi chế độ phong kiến đưa dân tộc đi theo con đường dân chủ tư sản là cần thiết. Ông viết:
“Năm 1910, được khỏi tù, năm 1911 tôi được qua Tây, để xem xét cái học thuật văn minh
Âu châu. Đã mười hai năm, tôi ăn nằm trên cái mảnh đất dân chủ, hớp cái hơi không khí tự
do, nhờ vậy mà tôi hiểu được lẽ chánh đáng trong thế giới, phần nghĩa vụ của quốc dân, và
cũng biết được chắc cái mục đích của nước nhà nên thay đổi lại thế nào. Chúng ta bây giờ
cần phải đánh thức nhau dậy, … làm cho tiệt hẳn cả cái sức ma quỷ chuyên chế nó đã ám
ảnh chúng ta mấy ngàn năm nay; …Ấy là cái chủ ý và mục đích của tôi đấy”
17
.
Tư tưởng dân chủ tư sản của Phan Châu Trinh được rất nhiều người ủng hộ và đi
theo, như một luồng gió mới trong lịch sử tư tưởng Việt Nam lúc bấy giờ. Phan Châu Trinh
được coi là người chính thức khởi xướng và xây dựng phong trào dân chủ tư sản ở nước ta
dựa trên sự kế thừa những giá trị của tư tưởng canh tân và tiếp thu tư tưởng dân chủ
phương Tây. Sự kiện đó thể hiện quá trình phủ định biện chứng hệ tư tưởng phong kiến
18
,
tiếp thu tư tưởng tiến bộ của thời đại, đánh dấu một bước chuyển rất lớn trên bình diện ý
thức hệ của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh lịch sử hết sức tăm tối. Cho nên, Phan Châu
Trinh có công rất lớn đưa dân tộc chuyển mình theo sự phát triển của thời đại, tư duy chính
trị của ông góp phần tạo nên sự nổi bật của tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX.
4. Trong điều kiện lịch sử xã hội hiện nay, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn
của Đảng cộng sản Việt Nam, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, chúng ta có thể nhận thấy rằng, tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh không chỉ có
giá trị tạo nên bước chuyển trong tư duy của dân tộc Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX,
mà còn để lại cho chúng ta ngày hôm nay nhiều bài học kinh nghiệm lịch sử quý báu. Đó là
những bài học về đón nhận thời cơ và chớp lấy cơ hội, bài học về giữ vững mục tiêu độc
lập dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình đổi mới, bài học về phát huy nội lực
của dân tộc, đồng thời phải biết tranh thủ những sự hợp tác từ bên ngoài, bài học về xây
dựng nền chính trị phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Sự thật,
Hà Nội.
[2] Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng.
[3] Trần Mai Ước (2012), Tư tưởng “Chấn dân khí” của Phan Châu Trinh - thực chất và những
bài học lịch sử, Tạp chí Giáo dục Lý luận, Số 7+8.
[4] Trần Mai Ước (2012), Tư tưởng phát triển giáo dục của Huỳnh Thúc Kháng và Phan Châu
Trinh và ý nghĩa lịch sử , Tạp chí khoa học và công nghệ, Sở khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng
Nam, Số 110, 111.
17
Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb. Đà Nẵng, trang. 592.
18
Trần Mai Ước (2012), Phan Châu Trinh – Nhà văn hóa lớn của dân tộc, Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, trang 55
BẢN TIN KHOA HỌC
Số 19/Quý III/Năm 2012
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI
| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP. Đà Nẵng
10
SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO
VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ
cho đội ngũ cán bộ đảng viên, viên chức trẻ
ở Trƣờng Cao đẳng Thƣơng mại
ThS. Hồ Công Huân
Trưởng Bộ môn LLCT
Đặt vấn đề
“Chính trị là một lĩnh vực hoạt động rộng lớn và hết sức quan trọng, nó quyết định vận
mệnh của đất nước và sự phát triển của xã hội và con người. Trình độ xử lý các tình huống
chính trị một cách khoa học và nghệ thuật không chỉ đem lại sự độc lập và ổn định chính trị
mà còn là điều kiện cho việc phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, phát triển con người, xây
dựng và phát triển đất nước. Bản chất chính trị, lý tưởng chính trị, trình độ hoạt động chính trị
hướng tới một xã hội nhân đạo, nhân văn, tất cả vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội và con
người, nói lên văn hóa chính trị của một nền chính trị”.
1. Văn hóa chính trị đƣợc hiểu thế nào?
Văn hoá chính trị, với tư cách là một loại hình của văn hoá, là khái niệm nói về sự thẩm
thấu của văn hoá vào chính trị
ày, mà
đó là chính trị bao hàm tính văn hoá từ bản chất bên trong của nó. Biểu hiện của văn hoá chính
trị thể hiện ở hai phương diện cơ bản:
Một là, chính trị với ý nghĩa là chính trị dân chủ, tiến bộ phải hướng tới mục đích cao
nhất là vì con người, giải phóng con người, tôn trọng quyền con người, tạo điều kiện cho con
người phát triển tự do, toàn diện, hài hoà. Đây là tính nhân văn sâu sắc của một nền chính trị
có văn hoá.
Hai là, những tư tưởng chính trị tốt đẹp không phải là những ý niệm trừu tượng mà phải
thiết thực, cụ thể, có khả năng đi vào cuộc sống. Nghĩa là nó phải thấu triệt trong hệ tư tưởng
chính trị, thể hiện qua đường lối chính sách của Đảng cầm quyền và nhà nước quản lý, trong
ứng xử và trong việc triển khai các kế hoạch cụ thể nhằm phát triển xã hội và phục vụ cuộc
sống của cá nhân cũng như của cộng đồng xã hội.
Văn hoá chính trị làm cho sự tác động của chính trị đến đời sống xã hội giống như sức
mạnh của văn hoá. Đó là loại sức mạnh không dựa vào quyền lực hay ép buộc mà thông qua
cảm hoá, khơi dậy tinh thần sáng tạo, ý thức tự giác của các tầng lớp xã hội. Việc xây dựng
văn hoá chính trị phải chú trọng đồng thời cả ba phương diện: giá trị xã hội được lựa chọn,
năng lực chính trị và trình độ phát triển về văn hóa chính trị của chủ thể chính trị.
Như vậy, văn hóa chính trị là một phương diện của văn hóa, ở đó kết tinh toàn bộ các giá
trị, phẩm chất, trình độ, năng lực và phương thức hoạt động chính trị, được hình thành trên một
nền chính trị với thể chế, hệ thống và thiết chế đúng đắn, khoa học, thực hiện lợi ích giai cấp,
dân tộc, quốc gia, phù hợp với xu hướng phát triển và tiến bộ của xã hội loài người.
BẢN TIN KHOA HỌC
Số 19/Quý III/Năm 2012
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI
| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP. Đà Nẵng
11
2. Sự cần thiết phải nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ đảng viên, viên chức trẻ
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta lãnh đạo đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng
trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đổi mới đã trở thành một đòi hỏi tất yếu khách
quan của cuộc sống xã hội và của mỗi con người Việt Nam. Mới chưa đầy ba thập kỷ, công
cuộc đổi mới ở Việt Nam đã ngang tầm với một c
, sự ổn định tích cực của xã hội, hướng đất nước
vào quỹ đạo phát triển lên chủ nghĩa xã hội. Song, bên cạnh những thành tựu đã đạt được,
trong đổi mới cũng xuất hiện nhiều vấn đề thực tiễn bức xúc cần giải quyết.
Đi đôi với sự thúc đẩy tích cực, năng động, sáng tạo của con người trong hoạt động kinh
tế do chuyển từ nền kinh tế hiện vật, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa-tiền tệ, đã xuất hiện
những biểu hiện tiêu cực như: đề cao một chiều theo xu hướng thực dụng và tuyệt đối hóa lợi
ích kinh tế, coi thường các chuẩn mực đạo đức, các giá trị nhân văn, truyền thống; thờ ở hoặc
có thái độ tiêu cực trước các vấn đề chính trị.
, nó cũng dẫn tới sự phân hóa
giàu nghèo, làm hàng giả, lừa đảo, trốn thuế, lậu thuế, vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu
đến đời sống kinh tế xã hội của đất nước.
Quá trình dân chủ hóa đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của xã hội, giải
phóng tinh thần, phát triển tư tưởng, con người với tư cách là cá nhân, công dân được coi
trọng, được phát huy sáng kiến, độc lập suy nghĩ, sáng tạo trong hành động. Nhưng đồng thời
lại xuất hiện xu hướng tự do vô chính phủ, phân tán, cát cứ, hoặc tái sinh những biểu hiện bảo
thủ, trì trệ cũ. Một trong những nguyên nhân của nhiều mặt tích cực này là sự non yếu và
không đồng bộ của pháp luật, do trình độ văn hóa chính trị còn hạn chế. Bên cạnh những dấu
hiệu tiến bộ trong phát triển, giao lưu văn hóa, nảy sinh khuynh hướng thương mại hóa văn
hóa, dẫn đến những biểu hiện lệch lạc về thị hiếu, nghệ thuật, về cách đánh giá, cách nhìn các
sự kiện chính trị. Đặc biệt là sự khủng hoảng, đổ vỡ của hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa ở
Liên Xô và Đông Âu, đã ảnh hưởng xấu tới quá trình phát triển văn hóa chính trị ở nước ta,
nhất là trong lớp người trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm, chưa có sự trưởng thành đầy đủ về ý thức
chính trị, lại chưa được giáo dục thấu đáo về văn hóa chính trị, về khoa học xã hội và nhân
văn.
Trong điều kiện đổi mới toàn diện về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội thì vấn đề hình
thành một đội ngũ cán bộ đủ trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức tốt để đáp ứng yêu cầu của
xã hội là một đòi hỏi tất yếu, khách quan.
Trong các nội dung giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay, việc hình thành
văn hóa chính trị giữ một vai trò hết sức quan trọng, nó nhằm tạo ra những con người có bản
lĩnh chính trị vững vàng trong mọi hoạt động của xã hội ở giai đoạn phát triển bước ngoặc cho
hôm nay.
Lênin đã nói: "nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay, đó là then
chốt, nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn".
Điều đó nói lên rằng: sau khi có đường lối chính trị đúng đắn, cán bộ có vai trò đặc biệt
quan trọng. Bởi vì, đường lối chính trị dù có đúng đắn đến đâu, tự bản thân nó cũng không
thay đổi được hiện thực mà nó cần phải có sự lãnh đạo của cán bộ chính trị với kinh nghiệm,
kỷ năng, kỷ xảo cao có ý nghĩa quyết định.
BẢN TIN KHOA HỌC
Số 19/Quý III/Năm 2012
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI
| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP. Đà Nẵng
12
Thực tế chứng minh rằng, không thể trở thành nhà chính trị có kinh nghiệm, có bản lĩnh,
thành những người tham gia tích cực, sáng suốt và có trí tuệ trong quá trình lãnh đạo chính trị,
nếu không được trang bị những thành quả quý báu của văn hóa chính trị hiện đại.
Lãnh đạo chính trị là lãnh đạo những con người, những tổ chức chính trị với những tâm
lý, tình cảm, nhu cầu chính trị khác nhau, đôi khi đối lập nhau. Điều đó đòi hỏi cán bộ chính trị
phải có sự tinh tế về chính trị, có năng lực đàm thoại chính trị, có sáng kiến và khả năng tìm tòi
những quyết định chính trị. Văn hóa chính trị góp phần hình thành những con người lãnh đạo
có tư chất như vậy.
Với ý nghĩa đó, văn hóa chính trị có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều chỉnh,
nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động chính trị, hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị
Cũng với những lý do cơ bản đó, chúng tôi thiết nghĩ, hình thành văn hóa chính trị cho
nhân dân nói chung và cho đội ngũ cán bộ nói riêng là việc làm hết sức cần thiết nhưng để làm
điều đó đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được một hệ thống giải pháp đồng bộ và thực hiện có
hiệu quả.
3. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ đảng viên,
viên chức trẻ
Thứ nhất: Nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin và
Tư tưởng Hồ Chí Minh; Hồ Chí Minh nhắc nhở: "Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái
tinh thần xử trí công việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình";
Thứ hai: Cùng với sự phát triển ồ ạt của thông tin đại chúng, kéo theo sự du nhập và phát
sinh các trào lưu tư tưởng xấu. Cần phải hạn chế sự du nhập của văn hóa phẩm đồi trụy. Đồng
thời, tuyên truyền nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội, những thành tựu và triển vọng mới trong
sự phát triển tương lai của đất nước;
Thứ ba: Đẩy mạnh việc hoàn thiện từng bước hệ thống chính trị, bảo đảm vai trò lãnh
đạo chính trị duy nhất của Đảng cộng sản Việt nam trong quá trình hình thành văn hóa chính
trị, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động định hướng của Đảng;
Thứ tư: Nâng cao nhận thức chính trị của từng cá nhân trong xã hội;
Thứ năm: Đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa trong đời sống xã hội.
Như vậy, văn hóa phải gắn liền với chính trị và chính trị phải tìm thấy sức mạnh trong
văn hóa. Hoạt động chính trị càng mang đậm văn hóa bao nhiêu thì càng làm cho chính trị trở
nên nhân đạo và nhân bản bầy nhiêu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đào Duy Anh; Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1992.
[2] Hồi ký, Bác Hồ với văn nghệ sĩ, Nxb Thành phố mới, Hà Nội, 1985.
[3] Sơ thảo đề cương bài giảng viện Khoa học chính trị, HVCTQGHCM, 1993.
[4] Phạm Văn Đồng, Văn hóa và đổi mới, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995.
[5] Trần Văn Giàu, Tư tưởng yêu nước, Nxb VNTP Hồ Chí Minh, 1983.
[6] Tạp chí Khoa học Chính trị, Phân viện TP Hồ Chí Minh, HVCTQGHCM, số 1& 3 (1996).
[7] Phạm Huy Kỳ , Văn hóa chính trị Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
[8] Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, "Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị
truyền thống Việt Nam", ngày 28-4-2009.
BẢN TIN KHOA HỌC
Số 19/Quý III/Năm 2012
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI
| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP. Đà Nẵng
13
TÌNH YÊU NAM NỮ TRONG QUAN NIỆM
CỦA PHẬT GIÁO
VÀ ĐÔI LỜI NHẮC NHỞ BẠN TRẺ KHI YÊU
Nguyễn Văn Đức
GV. Bộ môn Lý luận chính trị
Tình yêu là một loại tình cảm kì lạ và thiêng
liêng của con người, nó vừa lung linh huyền ảo vừa
khó đoán. Thi sĩ Xuân Diệu đã từng nói: “Làm sao
sống được mà không yêu. Không nhớ không thương
một kẻ nào”. Sống mà không yêu thì sự sống không
còn ý nghĩa, đó là sự chết rồi. Tình yêu nam nữ là
một phép nhiệm màu, nó có thể biến ta thành một
con người khác, có thể nâng bổng con người lên
nhưng cũng lắm lúc nhấn chìm ta xuống địa ngục.
Trong cái mê cung của tình yêu đó, Phật giáo đã dạy chúng ta những điều hay lẽ phải và
thống nhất với văn hóa truyền thống, pháp luật Việt Nam để hướng các bạn trẻ đến một
tình yêu thánh thiện và bền chặt.
1. Tình yêu nam nữ trong quan niệm của Phật giáo
Nói đến tình yêu trong quan niệm của đức Phật thì đó là một tình yêu cao thượng,
không có giới hạn, không phân biệt, không vị kỷ. Tình yêu xuất phát từ lòng Từ Bi và Trí
Tuệ, bao trùm cả vũ trụ và đến với tất cả chúng sanh vạn loại. Ngài Đạt Lai Lạt Ma thứ 14
đã tuyên bố câu nói rất sâu sắc: “Trái tim tôi là ngôi chùa của tôi, tình yêu thương là triết
lý sống của tôi”. Đó là tình "Yêu đời, yêu Đạo lẫn non sông”, tình yêu ấy cao vời vợi và
xuất thế gian, thoát khỏi ràng buộc của tham ái thấp hèn: “Xin vòng dây tham ái/ Rời khỏi
cuộc đời con/ Để cho trái tim con/ Biết yêu thương tất cả"
[1]
.
Trong tình yêu rộng lớn đó, Phật giáo còn nói đến tình yêu nam nữ, khái quát lời chỉ
dạy đó là: muốn yêu thì phải thương, muốn thương thì phải hiểu, muốn thương hiểu thì
phải biết từ, bi, hỷ, xả.
* Muốn “yêu” phải “thương”
“Thương” và “yêu” là những trạng thái tình cảm của con người, “thương” dựa trên sự
đồng cảm về tâm hồn là chủ yếu. Người ta dùng từ “thương” để nói về tình cảm của cha
mẹ đối với con, của anh với em, của bạn bè đối với nhau. “Yêu phải thương” nghĩa là tình
yêu phải bám rễ từ tình thương, từ sự đồng cảm. Khi thương nhau, sẽ tìm thấy điểm tốt của
BẢN TIN KHOA HỌC
Số 19/Quý III/Năm 2012
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI
| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP. Đà Nẵng
14
nhau, lắng nghe tâm tư tình cảm của nhau để cùng sẻ chia những nỗi khổ niềm đau. Thiền
Sư Nhất Hạnh có dạy: “Lắng nghe để hiểu, nhìn lại để thương”.
Tình yêu đích thực phải chứa đựng tình thương. Nếu tình yêu nghiêng về phía hưởng
thụ thì tình thương lại nghiêng về phía trách nhiệm. Trong tình cảm nam nữ, tình yêu lấn át
đi tình thương thì tình cảm ấy giống như lửa rơm “bạo phát bạo tàn”, tình thương lấn át
tình yêu thì tình cảm ấy sẽ như lửa than “mãi âm ỉ cháy”.
* Muốn “thương” phải “hiểu”
Đại thi hào Tago đã viết “Yêu là tên gọi khác của sự hiểu nhau”. Mỗi con người là
một thế giới, với những tâm sự, nỗi khổ không giống nhau. Xúc động biết bao nhiêu khi ta
khổ đau có một bàn tay nắm lấy sẻ chia, có một bờ vai để ta tựa vào đầy tin tưởng. Hạnh
phúc vô bờ nếu niềm vui của ta có được nụ cười đồng điệu. Và cũng thật trớ trêu cho
những tình yêu không “hiểu”, đó là một bi kịch - con người sẽ chết đuối trong biển đêm cô
đơn và hụt hẫng.
Không hiểu, không thể thương yêu sâu sắc. Không hiểu, không thể thương yêu đích
thực. Hiểu chính là nền tảng của tình thương yêu. Vậy nên, "có hiểu mới có thương" là
nguyên tắc chọn người yêu theo quan điểm Phật giáo. Hôn nhân có thể mở ra những con
đường hoa hồng, nhưng cũng có thể mở ra cánh cửa tù ngục nếu “hai nữa” không hiểu
nhau.
* Muốn “thương”, “hiểu” thì phải biết từ, bi, hỷ, xả
Ngoài “thương” và “hiểu”, theo Phật giáo tình yêu nam nữ muốn bền chặt phải hội đủ
bốn yếu tố: từ, bi, hỷ, xả.
"Từ" trong tình yêu nam nữ là “khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người mình yêu”
[2]
một cách tự nguyện. Yêu không phải là hưởng thụ mà là hiến tặng. Những người yêu nhau
chân thành họ không làm khổ nhau, mà họ làm cho người mình yêu hạnh phúc mỗi ngày.
"Bi" là “khả năng lấy cái khổ ra khỏi mình”
[3]
. Cuộc đời đầy ắp nổi khổ đau, người yêu làm
cho ta thêm khổ, đó không thể là tình yêu được. Còn gì cho nhau nếu chỉ có khổ đau và
tuyệt vọng. Người yêu mình phải là người biết sẻ chia, làm vơi bớt nỗi khổ của mình trong
cuộc đời.
"Hỷ" là “niềm vui, tình yêu chân thật phải làm cho cả hai đều vui”
[4]
. Vui với cuộc
sống, vui với con người và vui với tương lai. Đó không phải là cái vui gượng gạo mà phải
là niềm lạc quan đích thực. "Xả" là “không phân biệt, kì thị trong tình yêu”
[5]
. Khi yêu, hai
người không phải là hai thực thể riêng biệt nữa, họ quyện vào nhau. Hạnh phúc, nỗi đau
của người mình yêu cũng chính là của mình. Hãy tìm “mẫu số chung” cho những khác biệt
về học vấn, văn hóa; hãy vượt qua những rào cản về hoàn cảnh gia đình, kinh tế. Hãy
chuyển hóa nổi đau, làm lớn thêm hạnh phúc.
* Tình yêu và tình dục
Yêu nhau là giữ gìn cho nhau, tôn trọng nhau cả tâm hồn lẫn thể xác. Nếu ta không
tôn trọng thân thể người yêu thì cũng không tôn trọng tâm hồn người ấy. Có những nỗi
niềm sâu kín trong tâm hồn, chúng ta chỉ chia sẻ với người tri kỉ. Thân thể cũng vậy, có
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét