Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

555 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thanh toán chuyển tiền điện tử tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa-Hà Nội (86tr)

Khoá luận tốt nghiệp: Phân tích Báo cáo tài chính
khoản thanh toán hay các tài khoản giao dịch cho kháchhàng mà không một định
chế nào đợc phép làm điều này.
1.1.3. Những hoạt động kinh doanh của ngân hàng
NHTM là loại hình tổ chức tài chính đợc phép hoạt động kinh doanh đa
dạng nhất trên thị trờng tài chính bao gồm hoạt động huy động vốn, hoạt động tín
dụng và đầu t và các hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính khác nh dịch vụ thanh
toán, t vấn tài chính, quản lý hộ tài sản, kinh doanh ngoại tệ
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn
Khác với các doanh nghiệp phi tài chính, nguồn vốn chủ sở hữu của các
NHTM chiếm rất nhỏ (<10%)trong tổng nguồn vốn, bởi vậy để đảm bảo cho hoạt
động của mình công tác quan trọng đầu tiên của các NHTM đó chính là hoạt động
huy động vốn. Công tác huy động vốn bao gồm: huy động vốn tiền gửi và huy
động vốn phi tiền gửi. Các NHTM huy động các nguồn vốn nhằm đảm bảo cho
hoạt động kinh doanh thông qua các nghiệp vụ: tiết kiệm, tiền gửi dân c, tiền gửi
giao dịch, phát hành giấy tờ có giá, đi vay trên thị trờng tiền tệ, vay NHTƯ
1.1.3.2. Hoạt động tín dụng
Nguồn vốn NHTM huy động đợc chủ yếu đợc đem cho vay và tái đầu t trở
lại nền kinh tế. Ngay từ thời kỳ sơ khai của các NHTM, nghiệp vụ tín dụng đã đợc
coi là một hoạt động quan trọng bậc nhất đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi
ngân hàng, cũng nh đem lại hiệu quả to lớn cho xã hội. Các sản phẩm gắn liền với
hoạt động tín dụng bao gồm: cho vay kinh doanh, cho vay tiêu dùng, đầu t vào
giấy tờ có giá, góp vốn liên doanh liên kết
1.1.3.3. Hoạt động cung cấp dịch vụ khác
5
Khoá luận tốt nghiệp: Phân tích Báo cáo tài chính
Trong nền kinh tế hiện đại, yêu cầu về các sản phẩm tài chính ngày càng
gia tăng mạnh mẽ. Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều hơn sự cạnh tranh khốc
liệt trên thị trờng từ các tổ chức tài chính phi ngân hàng, các NHTM bởi thế,
có xu hớng đáp ứng nhu cầu của mọi đối tợng khách hàng một cách tốt
nhất, đang dạng hoá các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tiến tới giảm dần sự
phụ thuộc thu nhập của ngân hàng vào thu nhập từ hoạt động tín dụng. Dịch
vụ ngân hàng khác bao gồm: dịch vụ thanh toán, kinh doanh ngoại hối, dịch
vụ môi giới, bảo lãnh, t vấn tài chính
1.1.4. Những đặc thù trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
1.1.4.1. Hot ng kinh doanh ngân hng hm cha nhiu ri ro
Là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, hoạt động của
các NHTM hàm chứa rất nhiều rủi ro, cụ thể là:
Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có đợc tạo ra khi ngân hàng cấp
tín dụng cho khách hàng. Rủi ro tín dụng phát sinh trong trờng hợp ngân hàng
không thu đợc đầy đủ cả gốc và lãi của khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán cả
gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Trong thực tế, việc khách hàng không trả đợc nợ là
việc có thể xảy ra bất cứ lúc nào và với bất cứ ai vì rất nhiều nguyên nhân khác
nhau. Do vậy, rủi ro tín dụng là một rủi ro cố hữu mà bất cứ NHTM cũng gặp
phải.
Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là khoản lỗ tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu khi lãi
suất thị trờng có sự biến động. Nguyên nhân của rủi ro lãi suất là ngân hàng đã
không có sự cân xứng giữa kỳ hạn của TSC và TSN hoặc sự mất cân xứng giữa
khối lợng TSC và TSN nhạy cảm với lãi suất. Có hai loại rủi ro lãi suất là rủi ro tái
tài trợ TSN và rủi ro tái đầu t TSC.
Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là nguy cơ mất khả năng chi trả của ngân hàng khi
khách hàng có nhu cầu rút tiền. Đối với các tổ chức tài chính nói chung, các
NHTM nói riêng thì rủi ro thanh khoản là xảy ra thờng xuyên và nghiêm trọng
hơn cả. Bởi rủi ro thanh khoản có tính chất lan truyền, nếu những ngời gửi tiền
6
Khoá luận tốt nghiệp: Phân tích Báo cáo tài chính
nhận thấy ngân hàng gặp rắc rối về thanh khoản thì sẽ hành động đồng loạt rút
tiền ra khỏi ngân hàng.
Rủi ro ngoại hối
Rủi ro ngoại hối là khoản lỗ tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu khi
duy trì các TSC và TSN bằng ngoại tệ ở trong trạng thái trờng hay đoản về loại
ngoại tệ mà ngân hàng nắm giữ.
7
Khoá luận tốt nghiệp: Phân tích Báo cáo tài chính
Rủi ro hoạt động ngoại bảng
Các hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng cân đối tài
sản của ngân hàng. Xuất phát từ tính chất của hoạt động này là ngân hàng thu đợc
phí trong khi không phải sử dụng đến vốn kinh doanh nên đã khuyến khích các
hoạt động ngoại bảng ngày càng phát triển. Tuy nhiên, điều này có thể đa đến rủi
ro cho ngân hàng. Ví dụ nh, trong trờng hợp ngân hàng cam kết bảo lãnh cho
khách hàng để mua hàng hoặc để vay vốn hoặc nhằm mục đích nào đó, khi khách
hàng không trả đợc nợ thì ngân hàng phải đứng ra hoàn trả nợ vay cho khách
hàng. Trong trờng hợp này ngân hàng gặp phải rủi ro, dù có thu đợc phí bẩo lãnh
thì khoản tiền đó cũng không đủ để bù đắp số tiền mà ngân hàng phải bỏ ra. Đây
chính là rủi ro hoạt động ngoại bảng mà ngân hàng rất dễ gặp phải trong thực tiễn
hoạt động kinh doanh của mình.
Rủi ro công nghệ và hoạt động
Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu t cho phát triển công
nghệ không tạo đợc khoản tiết kiệm trong chi phí đã dự tính khi mở rộng quy mô
hoạt động.
Rủi ro hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với rủi ro công nghệ và có thể
phát sinh bất cứ lúc nào nếu hệ thống công nghệ bị trục chặc hoặc là khi hệ thống
hỗ trợ công nghệ bên trong ngừng hoạt động
1.4.1.2. Ngân hàng lấy đối tợng kinh doanh chính là tiền tệ.
Có thể nói, ngân hàng đã kinh doanh một hàng hóa đặc biệt trên thị trờng
đó chính là tiền tệ với đặc tính xã hội hóa cao, tính cảm ứng và nhạy bén với
mọi thay đổi trong nền kinh tế. Đây chính là đặc điểm cơ bản phân biệt lĩnh vực
kinh doanh ngân hàng so với các lĩnh vực kinh doanh khác. Giá cả trong kinh
doanh ngân hàng chính là lãi suất. Sự vận động lên hoặc xuống của lãi suất bao
hàm, ảnh hởng đến rất nhiều mối quan hệ kinh tế xã hội khác nhau.
Sự biến động của lãi suất có tác dụng điều tiết cân bằng thị trờng và là tín
hiệu thông báo, hớng dẫn ngời sản xuất và ngời tiêu dùng trong các hành vi kinh
tế của họ. Lãi suất cũng là một trong các yếu tố thu hút khách hàng đến với ngân
hàng hiệu quả nhất. Do vậy, tất cả các NHTM trong thực tiễn họat động hàng ngày
8
Khoá luận tốt nghiệp: Phân tích Báo cáo tài chính
đều xây dựng cho mình biểu lãi suất hợp lý nhất để tăng sức cạnh tranh của ngân
hàng mình trên thị trờng.
1.4.1.3. Nguồn vốn chủ yếu để các ngân hàng hoạt động kinh doanh chính là
nguồn vốn huy động.
Xuất phát từ chức năng thứ nhất của ngân hàng là: các NHTM là trung
gian tài chính làm nhiệm vụ thu hút tiền gửi và tiết kiệm trong nền kinh tế các
NHTM đã tạo ra đợc nguồn vốn khổng lồ để sử dụng cho hoạt động kinh doanh
của mình. Đây là nguồn vốn dồi dào và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn
vốn của ngân hàng. Đặc điểm của nguồn vốn này là ngân hàng không có quyền sở
hữu và đáp ứng những điều kiện đã thỏa thuận với khách hàng mà ngân hàng đợc
sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định để cho vay hoặc đầu t vào những
lĩnh vực khác nhau.
1.4.1.4. Kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh mang tính hệ thống
cao và phải chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Nhà nớc
Có thể nói, tình hình phát hành, lu thông và giá trị của tiền tệ có ảnh hởng
sâu rộng đến tổng thể nền kinh tế, hơn nữa, đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh
ngân hàng là mang tính lan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn những lĩnh vực kinh
doanh khác. Do đó, một mặt đòi hỏi phải có sự quản lý nghiêm nghặt của các cơ
quan quản lý Nhà nớc nhằm thực thi CSTT quốc gia, nhằm bảo vệ sự an toàn của
hệ thống tài chính ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của ngời gửi tiền và ngời đầu t.
Mặt khác, để bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng nh để
có thể tạo ra các dịch vụ toàn diện cho ngân hàng, luôn đòi hỏi phải duy trì tính
ràng buộc theo hệ thống trong quá trình hoạt động của các ngân hàng, bao gồm cả
những ràng buộc về mặt kỹ thuật và về mặt tổ chức, có thể do các ngân hàng tự
thiết lập hay do các yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nớc.
Tính hệ thống không chỉ đơn thuần là do yêu cầu có sự thống nhất về kỹ
thuật nghiệp vụ trên phạm vi ngày càng rộng mà nó còn đợc bổ sung bởi nhu cầu
phải hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngân hàng về thanh khoản, vốn khả dụng, về chia sẻ
rủi ro để đảm bảo sự an toàn của bản thân của cả hệ thống và nền kinh tế.
9
Khoá luận tốt nghiệp: Phân tích Báo cáo tài chính
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng luôn đợc đặt trong một môi tr-
ờng pháp lý nghiêm ngặt, bị chi phối rất mạnh bởi tác động của chính sách tài
chính tiền tệ quốc gia. Hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng có đợc ở mức
độ nào cũng luôn là kết quả không chỉ những nỗ lực của bản thân ngân hàng đó
mà còn lệ thuộc chặt chẽ vào khả năng liên kết của ngân hàng đó với các ngân
hàng khác và với các thị trờng tài chính.
1.2.Lý luận về phân tích báo cáo tài chính ngân hàng.
1.2.1. Báo cáo tài chính của ngân hàng.
1.2.1.1. Khái niệm.
Hệ thống BCTC tài chính gồm những văn bản đặc biệt riêng có của hệ
thống kế toán đợc tiêu chuẩn hoá trên phạm vi quốc tế về nguyên tắc và chuẩn
mực. BCTC là phần chiếm vị trí quan trọng trong báo cáo thờng niên của NHTM.
Sở dĩ các báo cáo tài chính là một hệ thống là bởi lẽ ngời ta muốn nhấn mạnh đến
sự quan hệ chặt chẽ và hữu cơ giữa chúng. Mỗi BCTC riêng biệt cung cấp cho ng-
ời đọc một khía cạnh hữu ích khác nhau nhng sẽ không thể nào có đợc những kết
quả mang tính khái quát về tình hình tài chính nếu không có sự kết hợp giữa các
BCTC. Xét về mặt học thuật, BCTC đợc định nghĩa là: những BC trình bày tổng
quát, phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn
hình thành tài sản, tình hình tài chính cũng nh kết quả kinh doanh trong kì của
ngân hàng.
1.2.1.2. Vai trò, vị trí của BCTC.
Báo cáo tài chính có một vai trò to lớn trong thực tiễn hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng, có thể thấy rất rõ điều đó qua những nét cơ bản sau:
- BCTC trình bày tổng quát, phản ánh tổng hợp về tài sản, nguồn vốn cũng
nh toàn bộ tình hình tài chính của NH dới dạng các con số giúp ngời đọc
nắm bắt một cách trực quan nhất về thực tiễn hoạt động của ngân hàng
trong kì.
- BCTC nhằm cung cấp những thông tin cần thiết phục vụ nhà quản trị
NHTM và các đối tợng kinh doanh khác, nh: cổ đông, các nhà quản lý cấp
trên
10
Khoá luận tốt nghiệp: Phân tích Báo cáo tài chính
- BCTC cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình
hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thực trạng tài chính của
NHTM, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng
huy động nguồn vốn vào hoạt động kinh doanh của NHTM.
- Các chỉ tiêu, các số liệu trên BCTC là những cơ sở quan trọng để tính ra các
chỉ tiêu khác, nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả của các quá
trình kinh doanh của ngân hàng.
- Những thông tin của BCTC là những căn cứ quan trọng trong việc phân tích,
nghiên cứu, phát hiện những khả năng tiềm tàng, là những căn cứ quan
trọng để ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh hoặc
đầu t vào ngân hàng của các chủ sở hữu, các nhà đầu t
- Nhng BCTC còn là những căn cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch kinh
tế- kỹ thuật, tài chính của NHTM, là những căn cứ khoa học để đề ra hệ
thống các biện pháp xác thực nhằm tăng cờng quản trị ngân hàng, không
ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng
lợi nhuận cho NHTM.
1.2.1.3. Các báo cáo tài chính của NHTM.
Hệ thống BCTC của NHTM có 4 báo cáo, cụ thể là:
Bảng cân đối kế toán.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Báo cáo lu chuyển tiền tệ.
Thuyết minh báo cáo tài chính.
Ba báo cáo đầu là trọng tâm phân tích của khoá luận này do vậy khoá luận
xin trình bày khái quát về kết cấu của các báo cáo nh sau:
a. Bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản
ánh tổng quát về tổng giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản của
NHTM tại một thời điểm nhất định (thời điểm lập báo cáo). Trong đó, tài sản có
thể hiện những gì mà ngân hàng đang sử dụng, mà chủ yếu là những khoản tín
11
Khoá luận tốt nghiệp: Phân tích Báo cáo tài chính
dụng và đầu t còn tài sản nợ là những tài sản mà ngân hàng đang phải thanh toán
mà chủ yếu là những khoản tiền gửi của khách hàng và vốn chủ sở hữu.
BCĐKT phản ánh điều kiện tài chính của NHTM tại một thời điểm nhất
định. Các số liệu trên BCĐKT phản ánh số d nên chúng thay đổi từ thời điểm này
qua thời điểm khác. Đợc ví nh bức tranh trng bày về tình hình tài chính tài thời điểm
cuối năm, dựa trên BCĐKT ta tính đợc các chỉ tiêu tài chính. Nhờ vậy, BCĐKT trở
thành cộng cụ tốt để so sánh các chỉ tiêu tài chính giữa các thời kỳ khác nhau đồng
thời tạo cách nhìn tổng quát về cơ cấu và sự biến đổi trong BCĐ.
BCĐKT đợc trình bày thành 2 phần là Tài sản và Nguồn vốn với điều kiện
ràng buộc là:
tài sản có = nợ phải trả + vốn chủ sở hữu.
Các khoản mục cụ thể là:
Tài sản:
Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của NHTM gồm:
- Tiền mặt (ngân quỹ): khoản mục này bao gồm TM tại quỹ, tiền gửi tại
NHNN và tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác. Đây là khoản mục có tính lỏng
cao nhất trong toàn bộ tài sản của ngân hàng dợc sử dụng nhằm mục đích đáp ứng
yêu cầu quản lý của NHNN, yêu cầu rút tiền mặt, vay vốn và các yêu cầu chi trả
khác hàng ngày của NHTM. Dù có tính lỏng cao nhất nhng xét về tính sinh lời thì
khoản mục này có tính sinh lời rất thấp hoặc hầu nh không đem lại lợi nhuận cho
NHTM nên các ngân hàng thờng chỉ duy trì ở mức tối thiểu trong tổng tài sản có
của mình mà thờng là 2% trong tổng tài sản có.
- Cho vay:
Gồm các khoản tín dụng cấp cho các cá nhân, các tổ chức kinh tế và các
đối tợng khác. Đây là khoản mục chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng TSC của
ngân hàng và mang lai nguồn thu lớn nhất. Thông thờng, khoản mục này thờng
chiếm từ 70- 80% trong tổng TSC của các NHTM.
- Đầu t:
Gồm các chứng khoán mà chủ yếu là thơng phiếu, trài phiều chính phủ,
tín phiếu kho bạc với đặc tính là độ rủi ro thấp và khả năng chuyển hoá thành
tiền nhanh chóng.
12
Khoá luận tốt nghiệp: Phân tích Báo cáo tài chính
- Tài sản cố định (TSCĐ):
Bộ phận tài sản này không sinh lời nhng là điều kiện để các NHTM tiến
hành các hoạt động kinh doanh, tạo hình ảnh và vị thế cho NHTM trên thị trờng.
Vì tính chất không sinh lời của loại tài sản này nên các ngân hàng chỉ hạn chế tỉ
trọng của bộ phận này ở một mức hợp lý để tránh ảnh hởng đến tình hình kinh
doanh của mình. Theo quy định của NHNN đầu t cho TSCĐ của các NHTM
không lớn hơn 50% Vốn tự có của ngân hàng. Khoản mục này đợc trình bày theo
nguyên giá và hao mòn.
- Tài sản có khác:
Chủ yếu là các khoản vốn đang trong quá trình thanh toán mà NHTM phải
thu về gồm: các khoản phải thu, các khoản lãi cộng dồn dự thu, tài sản có kkhác
và các khoản dự phòng rủi ro khác.
Nguồn vốn.
Bao gồm khoản nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
- Nợ phải trả
Gồm các khoản vốn mà NHTM huy động từ bên ngoài, cụ thể là:
. Tiền gửi: của cá nhân, của tổ chức kinh tế, kho bạc nhà nớc và của các tổ
chức tín dụng khác.
. Tiền vay: Gồm vay NHNN, vay các TCTD khác trong nớc và nớc ngoài
hoặc nhận vốn vay đồng tài trợ.
. Vốn ủy thác đầu t
. Phát hành giấy tờ có giá: trái phiếu, tín phiếu để huy động vốn.
. Tài sản nợ khác: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động của
NHTM gồm: các khoản phải trả, các khoản lãi cộng dồn dự trả và các tài sản nợ
khác.
- Vốn và các quỹ.
Là vốn thuộc sở hữu của bản thân ngân hàng, đợc hình thành từ phần góp
của các chủ sở hữu hoặc từ lợi nhuận để lại gồm 4 phần:
. Vốn góp của chủ sở hữu ngân hàng để thành lập hoặc mở rộng hoạt
động NHTM: vốn điều lệ, vốn đầu t xây dựng cơ bản, vốn khác.
13
Khoá luận tốt nghiệp: Phân tích Báo cáo tài chính
. Các quỹ đợc hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh của các
NHTM theo cơ chế tài chính hiện hành nh: quỹ đầu t phát triển, quỹ dự phòng tài
chính
. Lãi /lỗ kỳ trớc.
. Lãi/ lỗ kỳ này.
Ngoài bộ phận theo dõi trong BCĐKT, NHTM còn có một bộ phận tài sản
đợc theo dõi ngoại bảng, đó là những tài sản không thuộc quyền sở hữu của
NHTM nh: các tài sản giữ hộ, quản lý hộ khách hàng, các giao dịch cha đợc thừa
nhận là tài sản hoặc nguồn vốn dới dạng các cam kết bảo lãnh, cam kết mua bán
hối đoái có kỳ hạn
b. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh( BCKQKD).
Là báo cáo tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh,
phản ánh thu nhập hoạt động chính và các hoạt động khác qua một kỳ kinh doanh
(một kỳ kế toán) của NHTM. BCKQKD đợc chi tiết theo hoạt động sản xuất kinh
doanh chính và các hoạt động tài chính, hoạt động bất thờng. Theo quy định ở Việt
nam BCKQKD còn có thêm phần kê khai tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh
nghiệp đối với NSNN và tình hình thực hiện thuế giá trị gia tăng.
Báo cáo kết quả kinh doanh là loại báo cáo tài chính quan trọng của
NHTM vì thông qua các chỉ tiêu của báo cáo này giúp cho lãnh đạo ngân hàng và
các cơ quan quản lý, cơ quan thuế, kiểm tóan nắm đợc thực trạng các khoản thu
nhập, chi phí, kết quả tài chính của từng ngân hàng cũng nh toàn bộ hệ thống. Từ
đó giúp cho công tác lãnh đạo, điều hành, kiểm tra, kiểm toán có hiệu quả nhằm
giúp các NHTM hoàn thành kế hoạch tài chính và kế hoạch nộp ngân sách quốc
gia.
BCKQKD của NHTM đợc trình bày gồm 2 phần:
Phần I: Lãi, lỗ
Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà Nớc.
Trong phần I phản ánh các khoản thu và chi chính của NHTM nh sau:
(1). Thu từ lãi: là những khoản thu từ hoạt động tín dụng, đầu t, từ khoản
tiền gửi ở các TCTD khác, bao gồm: lãi cho vay, lãi tiền gửi, thu lãi góp vốn mua
cổ phần, thu khác về hoạt động tín dụng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét