trưởng trường Đại học Ngoại thương. Dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của thầy,
em đã có thể hoàn thành tốt bản khoá luận tốt nghiệp này.
Hà nội, ngày 30/12/2003
Sinh viên
Trần Ngọc Trung
CHƯƠNG I
QUI ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỸ
1. Khái niệm về bán phá giá
1.1. Định nghĩa
Theo qui định tại khoản 800-801, chương 463 thuộc bộ Luật Doanh Thu
1916 (Revenue Act of 1916), hành vi bán phá giá là hành vi nhập khẩu, hỗ trợ
việc nhập khẩu, bán hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Mỹ tại mức giá thấp hơn
đáng kể so với giá trị thực hoặc giá bán buôn của hàng hóa đó, tính tại thời điểm
xuất khẩu vào thị trường Mỹ, hoặc tại thị trường chính của nước sản xuấ
t, hoặc
tại một nước thứ ba cũng nhập khẩu hàng hóa đó (giá trị thực hoặc giá bán buôn
nói trên là giá không bao gồm cước vận chuyển, thuế, và các khoản phí khác cần
thiết cho việc nhập khẩu và bán tại thị trường Mỹ) với điều kiện, hành vi nói
trên được thực hiện nhằm phá hủy hoặc phương hại một ngành sản xuất ở Mỹ
hoặc ngăn cản việ
c thành lập một ngành sản xuất ở Mỹ, hoặc giành vị trí độc
quyền buôn bán hàng hóa đó ở Mỹ.
Theo định nghĩa trên, một hành vi sẽ được coi là bán phá giá nếu thỏa mãn
2 tiêu chí:
- Hàng hóa đó được bán tại mức giá thấp hơn giá trị thông thường.
- Việc bán hàng hóa tại mức giá đó gây thiệt hại tới ngành sản xuất của
Mỹ.
1.2. Các đạo luật của Mỹ liên quan đến bán phá giá
Mỹ là một trong những quốc gia đầu tiên đưa luật chống bán phá giá vào
hệ thống luật pháp quốc gia.
Điều luật đầu tiên điều chỉnh hành vi bán phá giá là khoản 800 - 801 thuộc
Bộ Luật Doanh Thu ban hành năm 1916, thường được gọi là Luật chống bán
phá giá 1916.
Theo luật này, nhà nhập khẩu có thể bị truy cứu trách nhiệm dân sự và
hình sự nếu nhập khẩu hoặc bán hàng hóa ngoại nhập vào thị trường Mỹ tại mức
giá thấp hơn đáng kể so với mức giá của cũng sản phẩm đó bán tại một thị
trường khác tương đương. Đạo luật này được ban hành do nỗi lo sợ rằng các
Công ty châu Âu, đặc biệt là các Công ty Đức, trong nỗ lực giành l
ại vị thế trên
thị trường Mỹ sau thế chiến thứ I, sẽ đe dọa đến sự phát triển của ngành sản xuất
Mỹ.
Tuy nhiên, do tính phức tạp trong việc yêu cầu nguyên đơn đưa ra các
bằng chứng, nên luật này chỉ được áp dụng một cách hạn chế và đã nhanh chóng
được bổ sung bởi một điều luật khác: Luật chống bán phá giá ban hành năm
1921, sau này được đưa vào phần VII Lu
ật thuế quan 1930 (Tariff Act of 1930).
Luật chống bán phá giá 1921 là căn cứ pháp lý quan trọng nhất trong việc xử lý
các hành vi bán phá giá. Bộ luật này cũng là nền tảng của Điều khoản VI của
GATT, sau này là Bộ luật chống bán phá giá của GATT ( ban hành năm 1967 ).
Sau việc ban hành luật chống bán phá giá 1921, phải mãi cho tới năm 1974
và 1979, Mỹ mới tiếp tục ban hành các điều luật điều chỉnh hành vi bán phá giá.
Đó là Luật Thương mại 1974 (Trade Act of 1974) và luật Thương mại 1979
(Trade Act of 1979). Hai điều luật này được ban hành nhằm chấn chỉnh lại công
tác kiểm soát, điều tra và xử lý các hành vi bán phá giá gây tổn hại cho nền công
nghiệp Mỹ. Chi tiết về vấn đề này sẽ được thảo luận kỹ ở phần sau.
Như vậy về cơ bản có 4 điều luật chính điều chỉnh hành vi bán phá giá:
- Luật chống bán phá giá 1916
- Luật chống bán phá giá 1921
- Luật Thương mại 1974
- Luậ
t Thương mại 1979
Bốn bộ luật này được kết hợp nhuần nhuyễn với nhau và đều được Bộ
Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Uỷ ban Thương mại Hoa Kỳ (USITC) dẫn chiếu
trong quá trình xử lý các vụ kiện bán phá giá.
2. Qui định của luật pháp Hoa Kỳ về xử lý hành vi bán phá giá
2.1. Cơ quan thẩm quyền điều tra hành vi bán phá giá
Cùng với sự hình thành của các điều luật liên quan, phạm vi thẩm quyền
xét xử hành vi bán phá giá cũng thay đổi theo.
Khi ban hành luật chống bán phá giá 1916, các vụ kiện bán phá giá được
coi là các vụ án dân sự và thậm chí là hình sự, do vậy cơ quan chịu trách nhiệm
là tòa án Mỹ. Thẩm quyền của tòa án chỉ giới hạn trong phạm vi xét xử, còn việc
tìm kiếm chứng cứ để có thể thắng được vụ kiện hoàn toàn là bổn phận của bên
nguyên đơn.
Việc ra đời Luật chống bán phá giá 1921 đồng nghĩa với việc chuyển đổi
thẩm quyền từ Tòa án sang Cục ngân khố Mỹ (US Treasury). Trách nhiệm cũng
được nâng cao: thẩm quyền của Cục Ngân khố không chỉ giới hạn trong việc
đưa ra phán quyết mà còn tiến hành các bước điều tra và xác định mức độ thiệt
hại mà mỗi hành vi bán phá giá gây ra. Tuy nhiên, trên thực tế, các công tác liên
quan đến hành vi bán phá giá đều không được Cục Ngân khố ti
ến hành công
khai và thường không có thời hạn để hoàn tất một cuộc điều tra. Chính bởi lý do
này mà tính bảo hộ của Luật chống bán phá giá đã không được phát huy, tạo nên
sự phản ứng trong giới công nghiệp Mỹ, đặc biệt là trong ngành thép. Sự phản
ứng này đã dẫn đến kết quả ra đời của Luật Thương mại 1974 (Trade Act of
1979) và Luật Thương mại 1979 (Trade Act of 1979). Một cách chính xác thì
trong 2 bộ luật mới này, chính quyền M
ỹ đã đưa ra các đạo luật qui định về hành
vi bán phá giá, cụ thể là Đạo luật Jackson - Vanik.
Theo luật mới này, hành vi bán hàng ở mức giá thấp hơn chi phí sản xuất
cũng được coi là bán phá giá. Về mặt thuật ngữ, bán phá giá và bán dưới mức
chi phí đều được gọi là bán dưới mức hợp lý (Less than fair value - LTFV). Luật
mới cũng đưa ra định nghĩa về chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất = chi phí trung bình + 10% chi phí quản lý + 8% lợi nhuận.
Đồng thời, thẩm quyền cũng được chuyển giao từ Cục Ngân khố Mỹ sang
Bộ Thương mại Hoa Kỳ ( DOC - Cơ quan bảo hộ công nghiệp nội địa) và Uỷ
ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC). Hai cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm
từng phần, cụ thể:
- Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) chịu trách nhiệm xác định mức giá bán
dưới mức hợp lý – mức LTFV. Việc xác định mức giá có thể được tiến hành khá
linh động. DOC có thể lựa chọn các mức tỷ giá hối đoái khác nhau khi chuyển
đổi giá xuất khẩu sang đồng tiền của nước xuất khẩu. DOC có thể bỏ qua mức
doanh số thấp hơn chi phí sản xuất thu được ở thị trường nước xuất khẩu. Khi
mức doanh số này quá thấp, DOC có thể sử dụ
ng mức giá ở một thị trường thứ
ba. DOC cũng có thể không xét đến lượng doanh số ở mức giá cao hơn mức
LTFV thu được trên thị trường Mỹ. Một điều quan trọng là thị trường Mỹ có thể
phân ra thành các thị trường khu vực. Việc xác định lượng doanh số ở mức giá
LTFV chủ yếu phụ thuộc vào phương pháp tính toán mà DOC áp dụng.
- Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ
(USITC) chịu trách nhiệm xác định
mức độ thiệt hại. Tương tự như DOC, USITC cũng có thể linh động trong việc
xác định xem liệu hành vi bán phá giá gây ra những thiệt hại vật chất hay chỉ
mới đe dọa đến ngành sản xuất Mỹ. USITC có thể xem xét nhiều chỉ tiêu khác
nhau như doanh số, lợi nhuận, việc làm,…
2.2. Trình tự tiến hành xử lý bán phá giá
Như đã trình bày ở trên, quá trình điều tra và đưa ra phán quyết cuối cùng
được gói gọn trong thời hạn tối đa là 280 ngày. Tuy nhiên, trên thực tế, các phán
quyết cuối cùng thường được đưa ra sớm hơn thời hạn này rất nhiều. Về cơ bản,
có 3 bước để kết thúc một vụ kiện bán phá giá:
- Khởi kiện.
- Điều tra
- Xem xét lại.
2.2.1. Quá trình khởi kiện
A. Tổng quan.
Bên nguyên đơn có thể đệ đơn kiện bán phá giá lên Bộ Thương mại Hoa
Kỳ (DOC) và Uỷ ban Thương mại Quốc tế (USITC) với nội dung: Một ngành
sản xuất của Mỹ đang phải chịu thiệt hại vật chất hoặc có nguy cơ phải chịu thiệt
hại vật chất, hoặc việc thành lập một ngành sản xuất ở Mỹ bị
trì hoãn do việc
nhập khẩu một hay nhiều loại hàng hóa tại mức giá thấp hơn mức hợp lý (mức
LTFV) hoặc do việc Chính phủ của một hay nhiều quốc gia trợ giá cho hàng hóa
mà Mỹ nhập khẩu.
B. Chuẩn bị khởi kiện
Thông thường, DOC và USITC thường xem xét lại đơn kiện trước khi
được đệ trình chính thức nhằm giúp nguyên đơn tránh được những sai sót có thể
ngăn cản quá trình điều tra.
Về mặt hình thức, đơn kiện phải có phần mở đầu và kết luận và được trình
bày theo dạng sau:
Mục 1: Thông tin chung
Mục 2: Mô tả hàng hóa nhập khẩu, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu
Mục 3: Thông tin về trợ
giá và thông tin về giá
Mục 4: Thông tin về tình trạng nguy kịch
Mục 5: Thông tin về mức độ thiệt hại
Mục 1: Thông tin chung
Phần này cung cấp thông tin về nguyên đơn và ngành nội địa sản xuất sản
phẩm tương tự hoặc gần giống với sản phẩm nhập khẩu. Theo qui định, đơn kiện
phải nhân danh cả một ngành sản xuất. Để thỏa mãn điều kiện này thì:
i. Số lượng nhà sản xuất và công nhân ủng hộ đơn kiện phải đại diện cho
tối thiểu 25% tổ
ng sản lượng của ngành đó.
ii. Số lượng nhà sản xuất và công nhân ủng hộ đơn kiện phải chiếm trên
50% sản lượng mà 25% nói trên tạo ra
(1)
.
Nếu đơn kiện không có được sự ủng hộ của các nhà sản xuất và công nhân
chiếm trên 50% tổng sản lượng của ngành, thì DOC phải trưng cầu ý kiến của cả
ngành hoặc dựa vào các thông tin khác để xác định xem liệu đơn kiện đó có đạt
được mức ủng hộ như luật định không.
Mục 2: Mô tả hàng hóa nhập khẩu, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu
Trong phần này, bên nguyên đơn cần đưa ra những định nghĩa chính xác
và rõ ràng về hàng nhập khẩu bao gồm đặc tính kỹ thuật, nguyên liệu sản xuất
kèm theo catalog sản phẩm. Nhìn chung, định nghĩa này phải đủ rộng để bao
quát được toàn bộ vấn đề nhưng cũng phải đủ hẹp để tránh tốn thời gian điều tra.
Ngoài ra, bên nguyên đơ
n phải đưa ra thông tin về nước xuất xứ của hàng
nhập khẩu, nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, giá trị và kim ngạch xuất khẩu sang thị
trường Mỹ trong 3 năm gần nhất.
Mục 3: Thông tin về trợ giá và thông tin về giá LTFV
Trong phần này, bên nguyên đơn phải đưa ra các thông tin, bằng chứng về
sự can thiệp của Chính phủ nước xuất khẩu đối với hàng nhập khẩu vào Mỹ,
cũng như mức giá dưới mức hợp lý - LTFV của hàng hóa nhập khẩu. Các thông
tin này sẽ chỉ do Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) xem xét.
Mục 4: Thông tin về "Tình trạng nguy kịch"
"Tình trạng nguy kịch" là điều khoản cho phép áp dụng thuế chống bán
phá giá trước thời hạn hiệu lực trong trường hợp đặc biệt. Bên nguyên đơn có
thể yêu cầu áp dụng điều khoản vào bất kỳ thời điểm nào trước ngày DOC đưa
ra phán quyết cuối cùng 20 ngày.
Đương nhiên, để điều khoản này được áp dụng, thì bên nguyên đơn phải
nhận đượ
c phán quyết xử thắng của DOC và USITC. Việc thi hành điều khoản
(1)
Ví dụ, 1 tổng công ty, gồm nhiều công ty thành viên chiếm 25% tổng sản lượng của ngành, đệ đơn kiện bán
phá giá. Để đơn kiện được chấp nhận, số công ty thành viên ủng hộ đơn kiện phải chiếm trên 50% sản lượng của
tổng công ty.
này sẽ dẫn đến việc áp dụng mức thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập
khẩu được bán trong khoảng thời gian 90 ngày trước khi mức thuế chống bán
phá giá được áp dụng. Điều khoản này được áp dụng nhằm 2 mục đích:
(1) Ngăn cản việc nhà nhập khẩu trốn thuế chống bán phá giá bằng cách
nhập khẩu một khối lượng lớn ngay sau khi có đơn kiện.
(2) Giảm bớ
t ảnh hưởng của lượng hàng nhập khẩu trốn thuế nếu như sự
việc đã xảy ra.
DOC phải đưa ra quyết định liên quan đến việc áp dụng điều khoản “tình
trạng nguy kịch”, và nếu quyết định của DOC là có tồn tại tình trạng đó, đồng
thời USITC cũng xác nhận việc có thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất nội
địa, thì USITC phải đưa ra một phán quyết bổ sung để xác định xem liệu có xảy
ra tình trạng trốn thuế hay không. Để đưa ra phán quyết này, USITC phải cân
nhắc các yếu tố:
(1) Thời gian và khối lượng hàng nhập khẩu.
(2) Sự tăng nhanh chóng lượng hàng nhập khẩu.
(3) Bất kỳ một yếu tố khác cho thấy đang có hành vi trốn thuế chống bán
phá giá.
Mục 5: Thông tin về mức độ thiệt hại
Trong phần này, bên nguyên đơn phải cung cấp các dữ liệu chứng minh
việc mặt hàng nhập khẩu gây thiệt hại hoặc đe đọa thiệt hại cho ngành sản xuất
nội địa. Nhìn chung, các số liệu này phải tổng kết được tình hình của 3 năm gần
nhất bao gồm:
(1) Kim ngạch và giá trị hàng nhập khẩu được bán ở mức giá LTFV.
(2) Giá bán tại M
ỹ của hàng nhập khẩu và giá của sản phẩm tương tự được
sản xuất tại Mỹ.
(3) Năng suất, doanh số trong nước, doanh số xuất khẩu của sản phẩm
tương tự được sản xuất tại Mỹ.
1
(4) Số lao động của Mỹ trong ngành sản xuất sản phẩm tương tự trên.
(5) Số liệu về thu nhập và lỗ (doanh số ròng, chi phí sản xuất, lợi nhuận
hoặc lỗ, chi phí bán hàng, chi phí quản lý)
2.2.2. Quá trình điều tra
Quá trình điều tra vụ kiện chống bán phá giá có thể được chia làm 5 bước,
kết thúc mỗi bước là phán quyết của DOC hoặc USITC.
Bước 1: Bắt đầu điều tra.
Bước 2: Giai đoạn điều tra sơ bộ của Uỷ ban TMQT USITC
Bước 3: Giai đoạn điều tra sơ bộ của Bộ TM HoaKỳ DOC
Bước 4: Giai đoạn điều tra chính thứ
c của Bộ TM Hoa Kỳ DOC
Bước 5: Giai đoạn điều tra chính thức của Uỷ ban TMQT Hoa Kỳ USITC
Ngoại trừ bước 3, trong các bước còn lại nếu có phán quyết xử thua bên
nguyên đơn thì vụ kiện sẽ bị dừng lại.
Thời hạn hoàn thành cho 5 bước trên như sau:
Bước 1: 20 ngày sau khi nhận được đơn kiện
Bước 2: 45 ngày sau khi nhận được đơn kiện
Bước 3: 115 ngày sau khi hoàn thành bước 2
Bước 4: 75 ngày sau khi hoàn thành bước 3.
Bướ
c 5: 120 ngày sau khi hoàn thành bước 3.
1
Những thông tin này sẽ được sử dụng để đánh giá quy mô của ngành sản xuất mặt hàng tương tự của Mỹ, từ đó
đánh giá mức độ thiệt hại mà mặt hàng bán phá giá gây ra.
A. Bước 1: Bắt đầu điều tra
Bên nguyên đơn phải đồng thời đệ đơn kiện lên DOC và USITC. Trong
vòng 20 ngày sau khi nhận đơn kiện, Bộ TM Hoa Kỳ (DOC) sẽ xác định tính
cần thiết áp dụng thuế chống bán phá giá như đơn kiện yêu cầu. Nếu phán quyết
của DOC là cần thiết, thì quá trình điều tra sẽ được tiến hành, nếu ngược lại
DOC sẽ bác đơn kiện và quá trình tố tụng chấm dứ
t.
B. Bước 2: Giai đoạn điều tra sơ bộ của Uỷ ban Thương mại Quốc tế
Hoa Kỳ - USITC
Trong vòng 45 ngày sau khi nhận được đơn kiện, USITC sẽ dựa trên
những thông tin sẵn có để xác định xem liệu có dấu hiệu nào cho thấy một
ngành sản xuất Mỹ đang phải chịu thiệt hại hoặc có nguy cơ phải chịu thiệt hại
vật chất, hoặc việc thành lậ
p một ngành sản xuất bị ngăn cản do việc nhập khẩu
loại hàng hóa nằm trong diện điều tra. Trong giai đoạn điều tra sơ bộ này,
USITC phải tiến hành 6 bước:
- Thành lập và lên kế hoạch điều tra sơ bộ.
- Bảng câu hỏi.
- Họp báo và tổng kết
- Báo cáo của ban điều tra và bản ghi nhớ
- Tổng kết và biểu quyết
- Phán quyết và quan đi
ểm của USITC
* Thành lập và lên kế hoạch điều tra sơ bộ
Sau khi nhận được đơn kiện, USITC sẽ thành lập một ban điều tra gồm 6
thành viên: 1 điều tra viên, 1 chuyên gia kinh tế, 1 kế toán viên/kiểm toán viên,
1 chuyên gia phân tích sản xuất, một luật sư, và 1 giám sát viên. Ban điều tra sẽ
lên kế hoạch điều tra và soạn thảo 1 thông báo cho công luận. Mục đích của bản
thông báo này là cung cấp cho công chúng những thông tin liên quan đến nội
dung điều tra và l
ịch trình điều tra.
Bên nguyên đơn cũng có thể tham gia vào ban điều tra.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét