Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Tỷ giá hối đoái và vấn đề tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay

- Các phơng thức, công cụ điều chỉnh, các chính sách can thiệp của Nhà nớc.
- Các cú sốc kinh tế, chính trị xã hội và các chính sách lớn của Nhà nớc
trong lĩnh vực kinh tế, tài chính tiền tệ.
II. Các hệ thống tỷ giá.
Tỷ hối đoái có ý nghĩa rất quan trọng đối với tất cả các đối tợng tham gia
vào các giao dịch đối ngoại cho dù đó là nhà thơng mại hay nhà đầu t. Tỷ giá
hối đoái cũng có vai trò trung tâm trong chính sách tiền tệ trong đó tỷ giá có
thể là mục tiêu hay công cụ hay chỉ đơn thuần là một chỉ số phụ thuộc vào
cơ chế chính sách của mỗi quốc gia. Mức độ can thiệp khác nhau của nhà nớc
khác nhau đến tỷ giá hối đoái đã tạo nên những cơ chế tỷ giá hối đoái khác
nhau giữa các quốc gia. Có hai cơ chế tỷ giá cơ bản là: cơ chế tỷ giá hối đoái
cố định (vào vàng, vào một đồng tiền hay một nhóm đồng tiền) và cơ chế tỷ
giá thả nổi (tỷ giá đợc xác định dựa vào cung cầu trên thị trờng). Mỗi quốc gia
trong một thời kì khác nhau có sự lựa chọn khác nhau về mức độ cố định thả
nổi tỷ giá hối đoái hay có sự dung hoà nào đó về sự cố định hay thả nổi tỷ giá
hối đoái. Điều này đã đa đến các nguyên tắc khác nhau về điều hành tỷ giá hối
đoái hay các chính sách có liên quan khác của mỗi quốc gia. Sự khác nhau đó
đã tạo nên sự đa dạng về cơ chế tỷ giá hối đoái ở trên thế giới.
1. Chế độ tỷ giá cố định.
Mục đích của quan điểm giữ tỷ giá cố định là phải giữ tỷ giả hối đoái ổn
định để kiềm chế lạm phát ở mức thấp và củng cố niềm tin của dân chúng vào
đồng tiền nội địa. Khi sử dụng chế độ tỷ giá cố định ngời ta có thể sử dụng các
hệ thống sau:
* Chế độ bản vị vàng :
Trong chế độ này chính phủ của mỗi quốc gia cố định giá vàng tính bằng
tiền nớc họ và duy trì khả năng chuyển đổi đồng tiền trong nớc thành vàng
chính phủ sẽ mua và bán vàng nhiều bằng mức mà nhân dân muốn giao dịch
tại giá trị ngang giá này và chính phủ tuân theo quy tắc nhằm gắn liền đồng
tiền trong nớc với số vàng nhà nớc có. Chính phủ chỉ có thể phát hành tiền

5
bằng cách mua vàng của công chúng, tức là nếu công chúng chuyển đổi tiền
giấy của họ thành vàng thì lợng tiền lu hành sẽ giảm đi. Dới chế độ bản vị
vàng khả năng của chính phủ trong việc tăng mức cung tiền bị hạn chế nghiêm
ngặt bởi yêu cầu là chỉnh phủ phải nắm giữ một giá trị vàng tơng đơng trong
kho bạc.
Chế độ bản vị vàng là một chế độ ổn định, đồng tiền rất ít khi bị mất giá,
việc thanh toán nợ nần giữa các quốc gia cũng đợc thực hiện bằng vàng nh vậy
nó thực sự đẩm bảo một cơ chế tự động điều chỉnh sự mất cân đối trong thơng
mại và thanh toán quốc tế. Vì vậy chế độ này đã đợc sử dụng hầu nh suốt thế
kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở các nớc. Bản vị vàng có một u điểm lớn và một nhợc
điểm đáng kể. Bằng cách gắn chặt, nếu không phải là hoàn toàn mức cung tiền
nội địa với mức dự trữ vàng, bản vị vàng thực sự đã loại trừ việc phát hành tiền
liên tục trên quy mô lớn và tỉ lệ lạm phát một cách thờng xuyên cao. Tuy
nhiên do cơ chế chủ yếu để phục hồi công ăn việc làm đầy đủ là sự giảm giá
và tiền lơng nội địa mà phải mất nhiều năm để điều chỉnh hoàn toàn theo mức
giảm đáng kể về tổng cầu cho nên thời kì của bản vị vàng là thời kì trong đó
các nền kinh tế riêng lẻ dễ bị tổn thơng dẫn tới những giai đoạn suy thoái lâu
dài và sâu sắc.
2. Chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods :
Dới chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái danh nghĩa đợc cố định một cách
vô thời hạn. Bây giờ chúng ta sẽ bàn về hệ thống điều chỉnh hạn chế, trong đó
các tỷ giá hối đoái thông thờng đợc cố định nhng một đôi lúc các nớc đợc
phép thay đổi tỷ giá hối đoái của mình. Hệ thống này đợc ra đời gần cuối thế
chiến thứ hai trong một hội nghị đa quốc gia đợc tổ chức ở Brentton Woods
New Hampshire để hoạch định" một hệ thống tỷ giá hối đoái có trật tự thuận
lợi cho luồng thơng mại tự do". Theo hệ thống này tỷ giá chính thức giữa đồng
tiền của các nớc thành viên đợc hình thành trên cơ sở so sánh hàm lợng vàng
của đô la Mĩ (1 USD= 0,888671 gram vàng) và chỉ đợc phép dao động trong
biên độ 1% của tỷ giá chính thức đã đợc đăng kí tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF vì
thế hệ thống tỷ giá này còn đợc biết với đến với tên gọi bản vị đôla. Theo chế

6
độ bản vị đô la, các đồng tiền đợc chuyển đổi theo đôla chứ không phải theo
vàng. Tại mức tỷ giá hối đoái cố định, các ngân hàng trung ơng cam kết mua
hoặc bán đôla từ nguồn dự trữ ngoại hối hoặc lợng đôla hiện có của họ. Họ
cam kết can thiệp vào thị trờng ngoại hối để bảo vệ tỷ giá hối đoái cố định
theo đồng đôla.
Sự khác nhau căn bản giữa bản vị vàng và bản vị đôla là ở chỗ không còn
sự đảm bảo đổi lại 100% đối với đồng tiền nội địa, các chính phủ có thể in
thêm tiền để làm tăng sức cạnh tranh trong nớc. Nếu tình trạng thâm hụt ngân
sách kéo dài chính phủ phải dùng ngày càng nhiều dự trữ ngoại hối của mình
để trang trải cho thâm hụt, thì cuối cùng đất nớc sẽ cạn kiệt dự trữ ngoại hối,
lúc đó nhà nớc sẽ phải phá giá tỷ giá hối đoái của mình chuyển sang một nớc giá
trị ngang giá thấp hơn theo đôla để cố gắng tăng thờng xuyên sức cạnh tranh và
loại trừ sự mất cân đối cơ bản trong thanh toán quốc tế.
Tỷ giá hối đoái cố định, nếu bền vững hay đợc coi là bền vững thì sẽ tạo
cho các doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch và tính toán giá, nh vậy sẽ thúc
đẩy đầu t và thơng mại quốc tế; tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự hạn chế đối
với chính sách tiền tệ trong nớc vì do tỷ giá hối đoái cố định nên không
khuyến khích sự luân chuyển vốn vào hay ra khỏi quốc gia và do đó không cần
thiết phải có sự quan tâm thờng xuyên của ngân hàng trung ơng. Tỷ giá hối
đoái cố định sẽ là tối u nếu các ngân hàng trung ơng có thể thực hiện đợc sự
điều chỉnh cho tới mức tỷ giá tơng đối cân bằng và thực hiện việc cố định tỷ
giá ở mức đó; cơ chế tỷ giá cố định trực tiếp đặt ra sự tuân thủ đối với chính
sách tiền tệ và có thể đợc coi là phù hợp trong tình huống các công cụ tài
chính và thị trờng tài chính cha phát triển đủ mức cho sự vận hành của chính
sách tiền tệ theo cơ chế thị trờng.
Tuy nhiên tỷ giá hối đoái cố định trong trờng hợp thiếu tin cậy sẽ bị ảnh
hởng rất lớn của đầu cơ, điều này có thể dẫn tới sự phá vỡ hoàn toàn sự ổn
định tiền tệ, ổn định kinh tế hay ảnh hởng tới dự trữ ngoại hối; tỷ giá hối đoái
cố định có thể làm ngời ta phải từ bỏ đầu cơ, do đó thị trờng sẽ buồn tẻ, khó có
thể xác định đâu là tỷ giá hối đoái tối u, hay hợp lý cho một nền kinh tế, mặc

7
dù cả chính phủ và nhân hàng trung ơng đều cần thiết phải hiểu hơn ai hết đâu
là mức cân bằng. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa cố định có thể là quan trọng nhng
nó không quyết định tỷ giá hối đoái thực tế mà nó chỉ đợc coi là chỉ số hay
mục tiêu quan trọng mà thôi. Duy trì tỷ giá hối đoái cố định đòi hỏi ngân hàng
trung ơng phải luôn sẵn sàng can thiệp vào thị trờng ngoại hối để đảm bảo
mức tỷ giá hối đoái cố định.Tuy nhiên, khó có thể đa ra về mức độ cần can
thiệp nh thế nào để tác dộng vào nền kinh tế nhằm đạt đợc mục tiêu can thiệp.
Ngân hàng trung ơng cần thiết phải duy trì một mức nhất định về dự trữ ngoại
hối, nh vậy chi phí về quản lý tài sản sẽ lớn. Tỷ giá hối đoái này cũng phụ
thuộc vào chính sách tiền tệ của quốc gia khác, và đó là điều đôi khi gây bất
lợi do việc gắn đồng tiền bản tệ vào một đồng ngoại tệ nào đó.
* Tỷ giá hối đoái thả nổi:
Là tỷ giá hối đoái đợc hình thành trên cơ sở diễn biến cung cầu. Có hai
loại tỷ giá thả nổi là thả nổi tự do và thả nổi có quản lý. Chúng ta biết rằng nền
kinh tế cân bằng dài hạn là phải cân đối cả bên trong lẫn bên ngoài (tức là đầy
đủ việc làm, xuất khẩu ròng bằng không và tài khoản vãng lai cân bằng) Nhu
cầu nhập khẩu phụ thuộc vào mức sản lợng trong nớc và tỷ giá hối đoái thực
tế. Nhu cầu xuất khẩu phụ thuộc vào mức sản lợng ở nớc ngoài và tỷ giá hối
đoái thực tế. Do đó khi nền kinh tế trong nớc và nớc ngoài đều ở trong tình
trạng cân đối hoặc ở mức sản lợng tiềm năng,thì chỉ có một tỷ giá chính thức
duy nhất đồng thời tơng ứng với sự cân bằng bên ngoài.ở bầt kì mức tỷ giá hối
đoái nào cao hơn nền kinh tế nội địa cũng có sức cạnh tranh kém hơn. Nhập
khẩu sẽ cao hơn và xuất khẩu sẽ thấp hơn, nền kinh tế sẽ bị thâm hụt trong tài
khoản vãng lai. Ngợc lại ở bất kì một mức tỷ giá hối đoái thực tế nào thấp hơn
với xuất khẩu cao hơn và nhập khâủ thấp hơn, nền kinh tế nội địa sẽ có một
khoản thặng d trong vãng lai. Chỉ có một tỷ giá hối đoái thực tế duy nhất tơng
ứng với sự cân đối bên trong và bên ngoài.

8
Chơng II
Hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
I. Sơ l ợc về hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam từ
năm 1955 đến nay.
Trong giai đoạn từ năm 1955 đến 1989, mặc dù nhiều nớc trên thế giới
đang áp dụng cơ chế thả nổi và thả nổi có quản lý, nhng các nớc xã hội chủ
nghĩa, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nớc luôn can thiệp mạnh vào
mọi mặt hoạt động kinh tế, thì quả thực cơ chế hối đoái thả nổi không thể tồn
tại, và phát huy tác dụng, thay vào đó là tỷ giá cố định, Việt Nam cũng không
nằm ngoài khuôn khổ đó. Tỷ giá chính thức của VND đợc công bố vào ngày
25 / 11 / 1955, là tỷ giá giữa VND và đồng nhân dân tệ trung quốc là 1NDT
=1470 VND và giữa đồng Việt Nam với đồng Liên Xô là 1 Rúp bằng 735
đồng Việt Nam. Tỷ giá này đợc xác định bằng cách so sánh giá bán lẻ của 34
mặt hàng tiêu dùng tại thủ đô và một số tỉnh khác giữa hai nớc nhằm giả quyết
nhu cầu thanh toán giữa hai nớc trong những năm kháng chiến chống Pháp.
Sau đó các tỷ giá giữa đồng Việt Nam với các nớc khác đợc thiết lập dựa trên
tỷ giá đó. Bên cạnh tỷ giá chính thức (tỷ giá mậu dịch), nhà nớc còn đa ra hai
loại tỷ giá khác là tỷ giá phi mậu dịch và tỷ giá kết toán nội bộ (tỷ giá giữa các
đơn vị có thu chi ngoại tệ với ngân hàng ngoại thơng). Nh vậy hệ thống tỷ giá
ở Việt Nam trong giai đoạn này là chế độ đa tỷ giá, tỷ giá đợc xác định trên ý
đồ phục vụ kế hoạch của nhà nớc, các quyết định này không xuất phát từ nhu
cầu thực tại của nền kinh tế thị trờng trong và ngoài nớc, tỷ giá giữ vai trò thụ
động, cha phải là công cụ điều chỉnh kinh tế vĩ mô thực sự. Chính vì vậy, hệ
thống tỷ giá này đã gây không ít khó khăn cho việc quản lý đều hành của nhà
nớc trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, kinh tế đối ngoại, đồng thời để lại hậu quả
nghiêm trọng cho nền kinh tế. Sở dĩ có tình trạng nh vậy là vì một số nguyên
nhân, thứ nhất là do việc sử dụng tỷ giá kết toán nội bộ trong quản lý ngân
sách nhà nớc làm cho việc tính toán và thu chi ngân sách bị sai lệch nghiêm

9
trọng, công tác điều hành ngân sách nhà nớc khó khăn, làm giảm hiệu quả
hoạt động của ngân sách nhà nớc. Từ năm 1970 đến 1980 hàng năm Liên Xô
viện trợ cho nớc ta khoảng 15 % thu nhập của cả nớc, bình quân từ 1,2 đến 1,5
tỉ rúp trong 1 năm nếu tính theo tỷ giá kết toán nội bộ thì số viện trợ này khoảng
1/3 tổng thu ngân sách, nhng nếu tính sức mua trên thị trờng của đồng rúp thì tỉ
trọng này vào khoảng 6070 %. Vì vậy nhu cầu đổi mới cơ chế tỷ giá nói
riêng,đổi mới lĩnh vực tài chính tiền tệ nói chung, trở thành vấn đề cấp bách vì
nếu để tỷ giá cũ làm cho việc bù lỗ nhập khẩu vợt mức chịu đựng của ngân sách
nhà nớc, thủ tiêu động lực xuất khẩu.
Sau đại hội toàn quốc lần thứ VI, nhà nớc bắt đầu thực hiện công cuộc
đổi mới nền kinh tế, từng bớc xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, chuyển
dần sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Đây là thời kì có sự
chuyển biến mạnh mẽ trong t duy quản lý và diều hành kinh tế của nhà nớc,
nhất là trong lĩnh vực tài chính tiền tệ.
Tỷ giá hối đoái, khâu đột phá có vai trò cực kì quan trọng trong cải cách
đợc đặc biệt quan tâm. Tháng 3/1989 Nhà nớc chính công bố xoá bỏ tỷ giá kết
toán nội bộ, xoá bỏ mội chế độ trợ giá cho các hoạt động ngoại thơng. Tỷ giá
chính thức đuợc Ngân hàng nhà nớc chính thức công bố căn cứ vào chỉ số lạm
phát, lãi suất trên thị trờng, cán cân thanh toán, tham khảo diễn biến giá trên
thị trờng tự do và giá vàng trên thị trờng quốc tế và trong nớc. Trên cơ sở tỷ
giá này, các ngân hàng thơng mại xây dựng cho mình một tỷ giá dùng để giao
dịch hàng ngày với biên độ giao động cho phép. Nhìn chung những giải pháp
trên đã góp phần cải thiện phần nào tình hình trên thị trờng ngoại hối, xoá bỏ
tình trạng bất hợp lý trong mua bán thanh toán, đặc biệt trong lĩnh vực nhập
khẩu.
Sau năm 1990, tuy đã có những cải cách nhất định về mặt tỷ giá nhng tỷ
giá vẫn có những biến động mạnh mà điển hình là cơn sốc tỷ giá vào năm
1991, đồng Việt Nam bị mất giá 60 % so với đôla Mĩ. Nguyên nhân chính là
do ảnh hởng của tình hình cán cân thanh toán quốc tế, sự thâm hụt tài chính
của chính phủ và mức độ lạm phát nặng nề ở Việt Nam. chính vì vậy vào cuối

10
năm 1991 đầu năm 1992 chính phủ đã can thiệp để nâng giá đồng Việt Nam
trên thị trờng ngoại tệ. Sự can thiệp này có mục đích chống lạm phát bằng
cách giữ cho hàng nhập khẩu đợc ổn định vì từ năm 1990 trở lại đây, Việt
Nam đã nhập khẩu một số lợng lớn lợng nguyên, nhiên vật liệu để đáp ứng nhu
cầu phát triển và mở rộng sản xuất trong nớc, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của
nông nghiệp. Nếu để giá của đồng nội tệ tiếp tục giảm tất yếu sẽ làm cho giá
thành sảm phẩm sản xuất trong nớc tăng bởi vì các yếu tố đầu vào đã tăng. Trong
điều kiện nền kinh tế có nhiều nhân tố gây bất ổn địnhkhác thì việc giá thành
hàng hoá nhập khẩu tăng cao sẽ là nhân tố kích thích lạm phát.
Cuối năm 1992, nguồn ngoại tệ do ngoại kiều gửi về Việt Nam khá lớn
làm tăng cung về ngoại tệ, mặt khác ngân hàng nhà nớc kiên trì quan điểm ổn
định tỷ giá bằng cách can thiệp vào thị trờng ngoại tệ, nhu cầu về ngoại tệ của
các doanh nghiệp cơ bản đợc đáp ứng, lạm phát gần nh đợc chặn lại, tạo lòng
tin cho dân chúng và sự ổn định của đồng tiền Việt Nam, giải toả đợc tâm lý
đầu cơ. đó là những nguyên nhân cơ bản nhất khiến cho xu hớng lên giá của
đồng Đô la sẽ bị chặn lại, tỷ giá VND/USD không những không tăng mà còn
giảm xuống. Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại trong viêc điều chỉnh này về tỷ
giá hối đoái quá mạnh đã gây sức rất ép lớn đối với sản xuất công nghiệp và
nông nghiệp. Trung Quốc là một bạn hàng quan trọng của Việt Nam và là một
thị trờng vừa lớn lại vừa gần. T giá hối đoái do thị trờng quy định của Trung
Quốc đã bị phá giá mạnh kể từ giữa năm 1991, biến động khoảng từ 6-8
NDT / 1 đô la và có thời gian ngắn lên 10 NDT
Nh vậy, trong cùng điểm thời gian (tháng 8/1991) khi đồng Việt Nam lần
đầu tiên đạt mức tỷ giá danh nghĩa nh năm 1991 thì đồng Nhân dân tệ bị phá
giá 50%. Trong khi đó mức lạm phát ở Việt Nam là 67%, còn tại Trung Quốc
là 25%, do đó mức tăng trong sức cạnh tranh của hàng hoá Trung Quốc là rất
đáng kể và các nhà máy Việt Nam đã phải vất vả vì tình trạng này.
Nhà nớc đã đối phó với tình trạng này bằng cách vẫn giữ ổn định tỷ giá
và phát động chống buôn lậu đồng thời đề ra cơ chế quản lý nhập khẩu bằng
hạn nhập (Quota), cấm nhập khẩu cũng nh hạn chế cấp tín dụng cho nhập

11
khẩu cùng với một số chính sách u đãi đối với nhà xuất khẩu nh : Giảm thuế,
bảo hiểm giá đối nông sản xuất khẩu, trợ giá đối với những sản phẩm xuất
khẩu mới Nhng do biên giới với Trung Quốc rất dài, dễ qua lại và do việc
buôn lậu mang lại rất nhiều lợi nhuận nên hầu nh không thể ngăn chặn việc
buôn bán tại vùng này tuy có thể làm cho những hoạt động đó mang lại ít lợi
nhuận hơn. Tất nhiên những biện pháp này sẽ không giúp đợc gì cho các nhà
xuất khẩu do họ sản xuất lại tụt xuống (nếu mức giá bằng USD vẫn không
thay đổi).
Diễn biến cụ thể của tỷ giá hối đoái trong 2 năm 1991, 1992 nh sau
Năm 1991 :
Tháng 12/90 1/91 3/91 6/91 12/91
VNĐ/USD 7400 7900 8830 10050 12550
VNĐ/USD 1350 1370 1460 1850 2350
Du
Năm 1992 :
Tháng 12/91 1/92 3/92 6/92 9/92 12/92 1/93
VND/USD 12.900 11.800 11.550 10.285 10.950 10.720 10.500

Đến cuối năm 1992, đồng Việt Nam tăng 20 % so với đồng đô la vì thế vào
năm 1993, sức cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trờng sẽ bị giảm mạnh.
Sau đó Nhà nớc lại tăng giá đồng đô la trong cuối quý I năm 1993 là cho đồng
Nhân dân tệ tăng gía, sức cạnh tranh của hàng Trung Quốc trên thị trờng Việt
Nam giảm
Tỷ giá năm 1993 của đồng Việt Nam so với đô la là
Tháng 12/92 1/93 3/93 6/93 7/93 9/93 12/93
VND/USD 10.720 10.500 10.500 10.580 10.680 10.750 10.835

12
Trong năm 1993, tỷ giá VNĐ/USD có xu hớng ổn định, Ngân hàng Nhà
nớc đã thành công trong việc giữ cho đồng Việt Nam không lên giá, điều này
giúp cho hàng hoá Việt Nam có thể cạnh tranh đợc, kích thích xuất khẩu đợc
giúp Việt Nam có thể hạn chế đợc ảnh hởng của đồng đô la với nền ngoại th-
ơng của mình
Ngày 20/09/1994, Thống đốc Ngân hàng nhà nớc ban hành quyết định số
203 / QĐ - NH9 về việc thành lập thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng, Ngân
hàng Nhà nớc thực hiện vai trò là ngời mua bán cuối cùng trong ngày. Tỷ giá
chính thức vẫn đợc Ngân hàng Nhà nớc công bố, chỉ có biên độ dao động là
thay đổi. Trong 3 năm 9396, đồng đô la hầu nh không tăng theo giá trị thực
của nó trên thị trờng, trong khi thị trờng dờng nh đợc thả nổi theo cung cầu.
Nguyên nhân của tình trạng trên là lợng vốn của nớc ngoài đầu t vào Việt Nam
trong thời kỳ này tăng rất nhanh, chính sách thắt chặt tiền tệ của chính phủ đã
kiềm chế đợc lam phát ở mức vừa phải và do chênh lệch lãi xuất giữa VNĐ và
USD quá lớn nên rất nhiều nhà đầu t đã bán đô la để lấy VNĐ gửi tiết kiệm
lấy lãi
Tình trạng giá trị đồng nội tệ cao đã làm cho vào năm 1996, mức thâm
hụt cán cân thơng mại nớc ta lên đến 16 %, cao gấp rỡi so với các nớc có mức
độ nhập siêu cao nhất thế giới, nhu cầu về USD lại tăng gây sức ép giảm giá
VND
Nh vậy có thể nói toàn bộ việc điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng
Nhà nớc từ 1990 đến trớc tháng 3 / 1997 là áp dụng chính sách tỷ giá cố định
có điều tiết nhẹ của Nhà nớc, chủ yếu dựa vào neo giữ và quy đổi VNĐ theo
USD qua 1 tổ ngoại tệ hẹp (chủ yếu qua đô la Mỹ, DM, bảng Anh, ) trong đó
đôla Mỹ chiếm tỉ trọng lớn. Thực tiễn đã chứng minh chính sách này chỉ phù
hợp với giai đoạn tiền tệ còn cha ổn định, xuất khẩu còn yếu, nhập khẩu khá ồ
ạt, dự trữ ngoại tệ quốc gia mỏng. Xu hớng của tỷ giá trong thời gian này là
tăng quá chậm so với tốc độ tăng trởng lạm phát (tính theo chỉ số liên hoàn
qua nhiều năm), VND đợc đánh giá quá cao so với giá trị thực của nó. Từ năm
19921996, tỷ giá tăng khoảng 5,2 % trong khi lạm phát tăng 40%). Yêu cầu

13
chuyển sang giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hớng mạnh vào xuất khẩu
trong điều kiện tiền tệ khá ổn định (lạm phát thấp, lãi suất giảm, cán cân thanh
toán tổng thể có bội chi nhỏ, dự trữ ngoại tệ khá hơn ) buộc chính sách tỷ giá
hối đoái phải điều chỉnh lại, vì thế đến năm 1997, Ngân hàng Nhà nớc có
quyết định để thay đổi biên độ giao dịch: Ngân hàng Nhà nớc nới rộng biên độ
giao dịch hối đoái cho các Ngân hàng thơng mại so với tỷ giá chính thức do
Ngân hàng Nhà nớc công bố, lần lợt là 5% vào tháng 3/1997 rồi đến 10% vào
tháng 10/1997, từ mức 0,5 - 1 % đợc áp dụng trong suốt 2 năm 1995, 1996
Trong thời kỳ 1997 - 1998, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD xích lại
gần nhau. Thời gian này diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu
vực, về cuộc khủng hoảng này, nhiều nhà kinh tế cho rằng một trong những
nguyên nhân gây ra khủng hoảng là ở Thái Lan đã duy trì một cơ chế gắn
đồng Bath vào đồng đô la một cách rất cứng nhắc của Ngân hàng Trung ơng
Thái Lan trong nhiều năm. Sau cuộc khủng hoảng này, hầu hết các đồng tiền
của các nớc trong khu vc giảm giá (tiền Indonexia mất giá 130 %, đồng Thái
Lan mất giá 100 %, đồng Malaixia mất giá 60 % ) đồng thời lợng vốn nớc
ngoài đầu t vào Việt Nam giảm sút. Xu hớng rút tiền đồng Việt Nam để
chuyển sang ngoại tệ tăng lên. Hơn nữa do năm 1996 khối lợng L/c trả chậm
khá lớn và phần lớn đến hạn trả vào năm 1997, do vậy làm tăng nhu cầu mua
ngoại tệ trong nớc để trả nợ đến hạn. Tất cả các điều kiệ trên gây áp lực giảm
giá VNĐ. Trớc tình hình đó chính phủ đã thực hiện phá giá từ 11113VND/
USD năm 1996 lên 13980 VND/ USD năm 1998
Việc điều chỉnh tỷ giá lần này là một quyết định kịp thời. Trong bối cảnh
cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, việc cố định một tỷ giá đợc coi là cao hơn tỷ
giá thực tế là một rủi ro quá lớn cho nền kinh tế Việt Nam, không những nó cản
trở xuất khẩu, khuyến khích xuất khẩu mà còn hạn chế" khả năng đề kháng của
nền kinh tế Việt Nam. Nhiều chuyên gia tỷ giá cho rằng, mức tỷ giá đó là phù
hợp trong giai đoạn đó. Việc tăng tỷ giá đã góp phần giảm tỉ nhập siêu từ 20,3 %
năm 1997 xuông 17,6 % năm 98

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét