- Chuyển đối tượng cần đào tạo đến nhận cương vị quản lý ở một bộ
phận trong tổ chức nhưng vẫn với chức năng và quyền hạn như cũ.
- Người quản lý được cử đến nhận cương vị công tác mới ngoài chuyên
môn của họ.
- Người quản lý được bố trí luân chuyển công việc trong phạm vi nội bộ
của một nghề chuyên môn.
2.2.2 Đào tạo ngoài công việc.
Đào tạo ngoài công việc là hình thức đào tạo trong đó người học
tách khỏi sự thực hiện các công việc thực tế. Trên thực tế có nhiều cách
thức để thực hiện việc đào tạo ngoài doanh nghiệp
- Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp
- Cử đi học tại các trường chính quy có liên quan tới chuyên môn mà
người lao động đang công tác hoặc những chuyên môn cần cho những
công việc mới trong tương lai của Doang nghiệp.
- Các bài giảng, các hội nghị hoặc các hội thảo cũng là một phương thức
đào tạo tốt.
- Đào tạo theo kiểu chương trình hoá, với sự trợ giúp của máy tính.
- Đào tạo theo phương thức từ xa.
- Đào tạo theo kiểu phòng thí nghiệm.
- Đào tạo theo mô hình hoá hành vi : Đặt vào những tình huống cụ thể để
người lao động giải quyết tình huống
- Đào tạo các kĩ năng xử lý các văn bản giấy tờ.
2.3 Tổ chức thực hiện các hoạt động đào tạo trong Doanh nghiệp.
2.3.1 Các vấn đề chiến lược đào tạo
• Doanh nghiệp cần đầu tư cho đào tạo tập trung cho các loại đào tạo
nào?
Doanh nghiệp chọn hướng đầu tư cho đào tạo như thế nào là tuỳ thuộc vào
chính sách sử dụng nguồn nhân lực của doanh nghiệp phụ thuộc vào chất
lượng nguồn nhân lực của thị trường lao động và Doanh nghiệp và tuỳ
thuộc vào đặc trưng hoạt động của doanh nghiệp.
• Phải tiến hành loại chương trình đào tạo nào?
5
Các loại hình và chương trình đào tạo.
- Định hướng lao động : mục đích của loại hình này là phổ biến những
thông tin, định hướng và cung cấp kiến thức mới như giải thích cho
người lao động về cấu trúc của doanh nghiệp hay cung cấp các thông tin
về doanh nghiệp.
- Phát triển kĩ năng: những người mới phải đạt được những kĩ năng cần
thiết để thực hiện các công việc và kinh nghiệm để họ đạt được các kĩ
năng mới khi công việc của họ thay đổi hoặc có sự thay đổi về máy
móc, công nghệ.
- Đào tạo an toàn: Loại đào tạo này được tiến hành để ngăn chặn và giảm
thiểu các tia nạn và để đáp ứng các đòi hỏi của luật pháp
- Đào tạo nghề nghiệp: mụ đích của loại hình đào tạo này là đề tránh
những kiến thức, kinh nghiệm bị lạc hậu. Việc đào tạo này nhằm phổ
biến các kiến thức mới, kinh nghiệm mới.
- Đào tạo người quản lý giám sát : Những người giám sát và quản lý cần
được đào tạo để biết cách ra quyết định hành chính và cách làm việc với
con người. Loại hình đào tạo này chú trọng vào các lĩnh vực: ra quyết
định, giao tiếp, giải quyết vấn đề, tạo động lực.
• Ai cần được được đào tạo?
Trả lời chính xác câu hỏi này là xác định nhu cầu và đối tượng đào
tạo do đó các doanh nghiệp cần phải cân nhắc để xác định cho phù hợp
với mục đích của doanh nghiệp và khả năng của các dối tượng để có
được kết quả đào tạo tốt nhất. Tuỳ thuộc vào yêu cầu công việc từ đó
doanh nghiệp có thể xác định được đối tượng lao động cần được đào
tạo. Để xác định được một cách chính xác nhu cầu đào tạo trong doanh
nghiệp thì doanh nghiệp cần tiến hành các bước phân tích sau:
- Phân tích tổ chức
- Phân tích công việc và nhiệm vụ
- Phân tích các nhân gười lao động.
• Ai sẽ là người cung cấp chương trình đào tạo?
6
Doanh nghiệp nên cân nhắc việc lựa chọn các chương trình đào tạo nội bộ
hay các chương trình đào tạo bên ngoài.
• Làm thế nào để đánh giá chương trình đào tao?
Hầu hết các chương trình đào tạo trong các doanh nghiệp đều được đánh
giá một cách rất hình thức, những quan điểm mang tính chủ quan làm giảm
đi tác dụng của chương trình đào tạo.Một sự đánh giá cần thận phải được
lựa chọn cẩn thận dựa trên các mục tiêu của chương trình đào tạo.
2.3.2 Trình tự xây dưng một chương trình đào tạo.
• Xác định nhu cầu đào tạo
Là xác định khi nào, ở bộ phận nào, đào tạo kĩ năng nào, cho loại lao động
nào và số lượng là bao nhiêu. Nhu cầu đào tạo được xác định dựa trên phân
tích nhu cầu lao động của tổ chức, các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần
thiết cho việc thực hiện công việc và phân tích trình độ, kĩ năng hiện có của
nguồn nhân lực.
• Xác định mục tiêu đào tạo
Là việc xác định những kĩ năng cụ thể cần đạt được sau đào tạo, trình độ
sau đào tạo, số lượng và cơ cấu học viên , thời gian đào tạo.
• Lựa chọn đối tượng đào tạo
Là sự lựa chọn nhân lực để đào tạo dựa trên nghiên cứu và xác định nhu
cầu của nguồn nhân lực.
• Xây dựng chương trình đào tạo và lựa chọn phương pháp đào tạo.
Chương trình đào tạo là một hệ thống các môn học và bài học được dạy,
cho thấy những kiến thức nào, kĩ năng nào cần được dạy và dạy trong bao
lâu trên cơ sở đố lựa chọn phương pháp đào tạo phừ hợp.
• Dự tính chi phí đào tạo.
Chi phí đào tạo quyết định tới việc lựa chon phương pháp đào tào, đối
tượng đào tạo vv
• Lựa chọn và đào tạo giáo viên
Có thể sử dụng giáo viên ngay trong nội bộ Doanh nghiệp hoặc thuê giáo
viên bên ngoài.
• Đánh giá chương trình và kết quả đào tạo.
7
Chương trình đào tạo có thể được đánh giá theo các tiêu thức như mục tiêu
đào tạo có đạt được hay không, những điểm yếu , điểm mạnh của chương
trình đào tạo và đặc tính hiệu quả kinh tế của việc đào tạo thông qua đánh
giá chi phí và kết quả của chương trình, từ đó so sánh chi phí và lợi ích của
chương trình đào tạo.
8
PHẦN II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH
1. Giới thiệu khái quát về các doanh nghiệp du lịch Việt Nam.
Đất nước Việt Nam với nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử là
điểm đến du lịch của rất nhiều khách du lịch quốc tế không chỉ trong nước mà còn
thu hút một lượng lớn khách du lịch ngoài nước. Tuy nhiên ngành du lịch và các
các doanh nghiệp du lịch chỉ thực sự phát triển kể từ sau khi đất nước ta tiến hành
mở cửa hội nhập với thế giới.
Các cơ chế chính sách phát triển du lịch được bổ sung, tạo môi trường cho
du lịch hoạt động thông thoáng. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam
giai đoạn 1995 - 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quy hoạch các
vùng du lịch và các trọng điểm du lịch đã được xây dựng; trên 50 tỉnh và thành
phố trực thuộc Trung ương và một số điểm du lịch, khu du lịch đã có quy hoạch,
tạo điều kiện để đẩy mạnh quản lý du lịch và xây dựng các dự án đầu tư. Hàng
trăm dự án quy hoạch chi tiết du lịch đang được khẩn trương thực hiện, tạo điều
kiện thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần quản lý, khai thác tài
nguyên du lịch ngày một hiệu quả. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 -
2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 7/2002. Chương trình Hành
động quốc gia về Du lịch được Chính phủ phê duyệt và thực hiện có hiệu quả
trong giai đoạn 1999-2009.
Chính sách, thể chế tạo nền tảng thúc đẩy du lịch phát triển đã được hình
thành và đổi mới phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển du lịch thế giới.
Pháp lệnh Du lịch ra đời năm 1999 là khung pháp lý cao nhất, bước ngoặt quan
trọng, khẳng định vai trò của Ngành và thể chế hoá đường lối phát triển du lịch
của Đảng và Nhà nước; tạo điều kiện cho hoạt động du lịch phát triển đi vào nề
nếp và có định hướng, mục tiêu rõ ràng. Các nghị định, thông tư hướng dẫn thực
hiện Pháp lệnh Du lịch về các lĩnh vực quản lý chi nhánh, văn phòng đại diện du
lịch ở trong và ngoài nước; lữ hành, hướng dẫn du lịch; lưu trú; thanh tra du lịch;
xử phạt hành chính; quản lý môi trường du lịch… đã được ban hành và thực hiện
có hiệu quả. Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Du lịch để điều chỉnh các
9
quan hệ du lịch ở tầm cao hơn; khẳng định một lần nữa vị thế của ngành Du lịch
ngay từ chính sách và thể chế.
Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến du lịch như Pháp lệnh xuất,
nhập cảnh, cư trú, đi lại cho người Việt Nam; cho người nước ngoài và các văn
bản liên quan khác được bổ sung; thủ tục hải quan được cải tiến thuận tiện hơn
cho khách và các nhà đầu tư. Việc miễn thị thực song phương cho công dân các
nước ASEAN và đơn phương cho công dân Nhật Bản, Hàn Quốc, 4 nước Bắc Âu,
Nga và miễn lệ phí visa trong khuôn khổ Chương trình Ấn tượng Việt Nam, đang
nghiên cứu xem xét đơn phương miễn thị thực cho công dân một số thị trường du
lịch trọng điểm khác… là giải pháp chủ động, tích cực trong bối cảnh suy giảm
kinh tế và dịch bệnh hiện nay để thu hút khách và các nhà đầu tư.
Lực lượng kinh doanh du lịch phát triển mạnh, thích nghi dần cơ chế mới,
từng bước làm ăn có hiệu quả: Hoạt động du lịch thu hút sự tham gia của cả 6
thành phần kinh tế (nhà nuớc; tập thể; cá thể, tiểu chủ; tư bản tư nhân; tư bản nhà
nước; 100% vốn nước ngoài). Trước Đại hội Đảng lần thứ IX, trong kinh doanh lữ
hành chỉ có doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài
được phép hoạt động, nay mở rộng cho cả doanh nghiệp tư nhân. Tính đến nay, cả
nước đã có hơn 11.000 cơ sở kinh doanh lưu trú; 758 doanh nghiệp lữ hành quốc
tế; hơn 10 nghìn doanh nghiệp lữ hành nội địa. Số lượng cơ sở kinh doanh du lịch
tư nhân, cổ phần và hợp tác xã chiếm tỷ trọng lớn, xu hướng phát triển mạnh.
Ngoài ra, còn có hàng nghìn hộ tư nhân kinh doanh du lịch hoạt động ở hầu hết
các địa phương trong cả nước.
Bảng 01 : Số lượng các doanh nghiệp lữ hàng của Việt Nam (7/2009)
Khu vực Tổng số Nhà nước Cổ phần Liên doanh TNHH Tư nhân
Miền Bắc 402 32 170 3 196 1
Miền Trung 73 10 20 2 40 1
Miền Nam 283 27 51 7 196 2
Tổng số 758 69 241 12 432 4
Nguồn : Tổng cục du lịch ( vụ thị trường du lịch) xuất bản 3/9/2009
10
Bảng 02: Số lượng hướng dẫn viên du lịch quốc tế tính đến 07/2009
Tổng
số
Phân loại theo ngoại ngữ sử dụng
Anh Pháp Trung Nga Đức Nhật Hàn TBN Ý Thái Khác
5.791 2.631 665 1.383 96 261 497 57 75 7 33 87
Nguồn : Tổng cục du lịch ( vụ thị trường du lịch) xuất bản 3/9/2009
Việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp du lịch nhà nước được địa phương và Tổng cục Du lịch quan tâm. Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh đã có chỉ thị, nghị quyết và đề án sắp xếp doanh nghiệp du
lịch nhà nước. Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigon Tourist), Vietravel và một số
doanh nghiệp du lịch đã phát huy vai trò chủ đạo trong hoạt động lữ hành, quảng
bá, phát triển thị trường, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Hà Nội đã thành
lập Công ty mẹ - Công ty con trong du lịch. Đề án sắp xếp lại doanh nghiệp (trực
thuộc Tổng cục Du lịch trước đây) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và đã
tổ chức triển khai từ giai đoạn 2003 - 2005, theo hướng để lại 4 doanh nghiệp
mạnh ở Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Vũng Tàu; hình thành
“Công ty mẹ - Công ty con” trên cơ sở 8 công ty; cổ phần hoá các công ty hiện có.
Tới nay, cả nước đã cổ phần hoá được trên 100 doanh nghiệp. Nhìn chung, sau khi
cổ phần hóa, hoạt động hiệu quả hơn, đời sống người lao động được nâng lên.
• Huy động các nguồn lực đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao
chất luợng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch
Toàn Ngành và các địa phương, đặc biệt là ở các địa bàn trọng điểm du
lịch, đã phát huy nội lực, huy động vốn từ nhiều nguồn để phát triển cơ sở hạ tầng
và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Từ 2001 đến 2009, Chính phủ đã cấp 4.836 tỷ
đồng hỗ trợ đầu tư hạ tầng du lịch ở các khu du lịch trọng điểm. Đã phối hợp với
các ngành và địa phương chỉ đạo phát triển các trọng điểm du lịch, các vùng du
lịch mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Chiến lược phát triển du lịch 2001
- 2010 đã xác định; khai thác và phát huy lợi thế về hạ tầng và điều kiện kinh tế -
xã hội của các khu kinh tế mở và vùng kinh tế trọng điểm để phát triển du lịch;
gắn kết hoạt động du lịch với hoạt động của các khu kinh tế mở, các vùng kinh tế
trọng điểm.
Bảng 03 :Vốn ngân sách TW hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch 2005-2009
11
Tổng số 2005 2006 2007 2008 2009
Số vốn hỗ trợ (tỷ đồng) 4.836 550 620 750 620 700
Số tỉnh, thành phố được
cấp vốn hỗ trợ
- 58 59 59 56 55
Nguồn : Tổng cục du lịch ( vụ thị trường du lịch) xuất bản 3/9/2009
Vốn hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng từ ngân sách nhà nước đã khuyến khích các
địa phương, các thành phần kinh tế đầu tư hàng nghìn tỷ đồng cho kết cấu hạ tầng
và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Cùng với đầu tư của Nhà nước và các thành
phần kinh tế nội địa, ngành Du lịch đã thu hút mạnh mẽ nguồn đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
Bảng 04 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thời kỳ 2002 - 2009
2002 2003 2004 2007 2008 6 tháng đầu năm 2009
Số dự án 25 13 15 48 26 145
Vốn (triệu
USD)
174,2 239 111,17 2.012 9.126 2.483
Nguồn : Tổng cục du lịch ( vụ thị trường du lịch) xuất bản 3/9/2009
Việc tăng cường mở rộng hợp tác, thu hút vốn đầu tư, tài trợ của quốc tế đã
đạt được những thành quả đáng khích lệ. Đặc biệt ngành Du lịch đã tranh thủ được
nhiều tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ tài trợ cho phát triển du lịch về quy
hoạch, phát triển nguồn nhân lực, cải cách hành chính, xây dựng văn bản quy
phạm phát luật du lịch. Tổng cục Du lịch cũng đã chỉ đạo toàn Ngành tích cực tìm
kiếm, khai thác nguồn đầu tư quốc tế. Các hoạt động xúc tiến du lịch trong và
ngoài nước, bên cạnh việc quảng bá thu hút khách, đều ưu tiên đặc biệt kêu gọi
đầu tư du lịch.
Cùng với dự án phát triển nguồn nhân lực do Luxembourg tài trợ với số
vốn 10 triệu euros và dự án EU với mức 12 triệu euros, Tổng cục Du lịch đã tiếp
nhận và điều hành dự án “Phát triển du lịch Mekong” do ADB tài trợ, với khoản
12
kinh phí 12,2 triệu USD (có 8,47 triệu USD vốn vay ưu đãi) tập trung chủ yếu cho
xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch tại đồng bằng sông Cửu Long.
Đầu tư ra nước ngoài, tuy còn mới đối với Du lịch Việt Nam, được thực
hiện trên lợi thế so sánh trong khai thác giá trị văn hóa, nguyên liệu và lao động
rẻ… Các dự án đầu tư ra nước ngoài được thực hiện dưới hình thức liên doanh
hoặc 100% vốn, với các hình thức kinh doanh ăn uống tại một số nước láng giềng
và các nước Nhật Bản, Đức, Lào và Hoa Kỳ. Tuy các dự án đầu tư ra nước ngoài
chưa nhiều (9 dự án), quy mô nhỏ, nhưng đây là hướng đi đúng, đạt hiệu quả và
phù hợp với xu hướng chung của hội nhập kinh tế thế giới. Đặc biệt, từ 2006, một
số doanh nghiệp du lịch trong nước đã đầu tư kinh doanh cơ sở lưu trú tại Pháp,
Đức và Mỹ.
Trong giai đoạn 2000 - 2009, cả nước đã nâng cấp, xây mới trên 60.000
phòng khách sạn (tăng gấp gần 2,5 lần so với 30 năm trước).
Bảng 05: Số lượng cơ sở lưu trú 2002 -tháng 6/2009
Năm 2002 2004 2006 2007 2008
6 tháng đầu
năm 2009
Số lượng CSLTDL 4390 5847 6720 8550 10.4 10.8
Số buồng (1000) 92,5 125,4 160,5 184,8 205 213,2
Nguồn : Tổng cục du lịch ( vụ thị trường du lịch) xuất bản 3/9/2009
13
Bảng 06: Khách sạn xếp hạng (tính đến tháng 6/2009)
Stt Hạng Số lượng Số buồng
1 5 sao 33 8.564
2 4 sao 90 10.95
3 3 sao 176 12.674
4 2 sao 850 31.45
5 1 sao 990 20.79
6 Đạt tiêu chuẩn tối thiểu
(*)
3.1 46.724
Tổng cộng 5.239 131.15
Nguồn : Tổng cục du lịch ( vụ thị trường du lịch) xuất bản 3/9/2009
Bảng 07. Dự báo sự phát triển của cơ sở lưu trú du lịch đến năm 2015
Stt Hạng
Số
lượng
Số
buồng
1 5 sao 70 22
2 4 sao 180 30
3 3 sao 500 40
4 2 sao 2.5 92
5 1 sao 5 110
6 Đạt tiêu chuẩn KDLTL 6 90
Tổng cộng 14.25 384
Nguồn : Tổng cục du lịch ( vụ thị trường du lịch) xuất bản 3/9/2009
Phương tiện vận chuyển khách du lịch phát triển đa dạng cả đường ô tô,
đường sắt, đường thuỷ và dần được hiện đại hóa. Một số khu du lịch nghỉ dưỡng,
sân golf, công viên chuyên đề và cơ sở giải trí được đưa vào hoạt động, đáp ứng
nhu cầu của du khách và nhân dân.
Năng lực vận chuyển khách du lịch tăng, chất lượng được nâng lên.
Phương tiện vận chuyển khách du lịch với hàng nghìn xe ô tô, tàu thuyền các loại,
chất lượng phương tiện được tăng cường đổi mới thường xuyên; nhiều đội xe taxi
ở các điểm du lịch được thành lập, đáp ứng kịp thời nhu cầu đi lại của du khách;
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét