Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Phát triển kinh tế tư nhân-Lý luận,thực trạng,giải pháp trong giai đoạn hiện nay

vào nước mình lực lượng sản xuất hiện đại và kinh nghiệm của những nước đi
trước cũng như tạo khả năng khách quan cho việc khắn phục khó khăn về nguồn
vốn, kĩ thuật hiện đại. Điều kiện đó giúp chúng ta tranh thủđược cơ hội, tận dụng,
khai thác, sử dụng có hiệu quả những thành tựu mà nhân loại đãđạt được để rút
ngắn thời kì quáđộ lên CNXH ở nước ta.
Về khả năng chủ quan: Mọi thành công của chúng ta đạt được phải kểđến
yếu tố quan trọng bậc nhất là sự lãnh đạo của Đảng và liên minh công nông vững
chắc. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac – Lênin luôn luôn nhấn mạnh vai trò
của Đảng vô sản trong việc lãnh đạo cách mạng nói chung và trong việc thực hiện
quá trình phát triển rút ngắn ở các nước tiền tư bản nói riêng thìở Việt Nam, Đảng
cộng sản Việt Nam là một nhân tố có vai trò quyết định đối với việc đẩy nhanh sự
phát triển đất nước .Và trong công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo
đã thu được những kết quả khả quan như: đã củng cố và khẳng định con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta làđúng đắn. Sự lựa chọn con đường quáđộ lên
CNXH bỏ qua TBCN của nước ta là phù hợp với sự lựa chọn của nhân dân ta. Các
tầng lớp lao động công nhân, nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng đã
cùng nhau chiến đấu, hy sinh để giành lại độc lập dân tộc và cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc. Do đó họ sẵn sàng liên minh chặt chẽ với nhau và cùng với Đảng
để vượt qua mọi khó khăn, xây dựng thành công CNXH.
Ngoài ra, khả năng và nguồn lực trong nước có thểđáp ứng được yêu cầu của
thời kì quáđộ lên CNXH. Chúng ta có lực lượng lao động dồi dào, chăm chỉ, khéo
léo, dễđào tạo, sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới. Tài nguyên thiên
nhiên của nước ta cũng hết sức giàu có và phong phú tạo điều kiện hoàn thành sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước tạo tiền đề xây dựng xã hội cộng sản
chủ nghĩa
3.Một sốđặc điểm cơ bản của thời kì quáđộ lên CNXH ở Việt Nam
Nước ta quáđộ lên CNXH có những đặc điểm chung của quáđộ lên CNXH
của các nước trên thế giới như: Đó là thời kì xét trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội đều do nhiều thành phần không thuần nhất cấu tạo lên; là thời kì mà sự phát
5
triển cái cũ của những trật tự cũđôi khi lấn át những mầm mống của cái mới của
trật tự mới. Thời kìđó có nhiều khó khăn phức tạp, phải trải qua những lần thử
nghiệm để rút ra những kinh nghiệm, những bước đi đúng đắn và trong quá trình
thử nghiệm.
Bên cạnh những đặc điểm chung đó chúng ta tiến hành quá còn có những
đặc điểm khác biệt với các quốc gia khác như :chúng ta bắt đầu tiến hành quáđộ
khi đất nước vẫn còn bị chia cắt hai miền với những chiến lược và nhiệm vụ khác
nhau (Đại hội Đảng III năm 1960). Trong quá trình tiến hành quáđộ từĐại hội
Đảng III đến Đại hội Đảng VI chúng ta luôn nhận được sự viện trợ giúp đỡ hợp tác
của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới màđặc biệt là Liên Xô thời đó. Nhưng
đặc điểm to lớn nhất của chúng ta trong thời kì quáđộ là “ từ một nước nông
nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa”. Đó tuy không phải la một quy luật bình thường nhưng rất phù hợp
với điều kiện nước ta lúc bấy giờ.
II. Thực trạng nền kinh tế quáđộở nước ta
1. Những thành tựu đãđạt được
1.1. Về kinh tế
Như ta đã biết dưới ách thống trị của thực dân Pháp nền kinh tế nước ta phụ
thuộc hoàn toàn vào chủ nghĩa đế quốc, kinh tế hết sức nghèo nàn, lạc hậu, nạn đói
xảy ra triền miên và kéo dài, nghiêm trọng nhất là vào năm 1945 có tới hàng vạn
người có nguy cơ chết đói. Nhưng từ khi cuộc kháng chiến trường kì kết thúc
thắng lợi, miền Bắc bước vào thời kì quáđộ thì dưới sự lãnh đạo của Đảng tính chất
nền kinh tếđã thay đổi. Từ nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến, chúng ta đã xây
dựng được nền kinh tế mang tính độc lập mang tính chất dân chủ nhân dân, thoát
khỏi sự phụ thuộc hoàn toàn vào chủ nghĩa đế quốc.
Trong giai đoạn từ 1945 đến 1975 kinh tếđã có những bước phát triển nhất
định nhưng kết quả thực sựđáng lưu ý là từ năm 1986 đến nay (thời kìđổi mới).
Sau gần 20 năm đổi mới kinh tếđã có những bước chuyển biến đáng mừng.
6
Thứ nhất: Nền kinh tế trong những năm qua tăng trưởng liên tục và có tốc độ
cao. Mức tăng GDP năm 2002 đạt 6,79%, năm 2003 đạt 7,26% và năm 2004 đạt
7,5% cao nhất từ năm 1997 trở lại đây. Cụ thể mức tăng của một số ngành như sau.
Ngành nông nghiệp: Mặc dù trong những năm qua thời tiết khắc nghiệt,
thiên tai và hạn hán thường xuyên xảy ra, nạn cúm gia cầm trong hai năm vừa qua
đã gây ảnh hưởng lớn nhưng tổng sản phẩm ngành nông, lâm, thuỷ sản vẫn tăng
3,5% góp 0,7% vào tốc độ tăng trưởng chung. Sản xuất lương thực, thực phẩm vẫn
giữ vai trò lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp. Nhờáp dụng khoa học công nghệ
mà sản xuất lúa đã chuyển dịch mạnh theo hướng tăng năng suất lao động, tăng
chất lượng lúa gạo để phù hợp nhu cầu thị trường, tăng sức cạnh tranh của gạo Việt
Nam trên trường quốc tế. Chúng ta vẫn giữ vững vị trí thứ hai về xuất khẩu gạo,
ngoại tệ thu được từ xuất khẩu gạo tăng từ 734 triệu USD lên 900 triệu USD năm
2004.
Ngành công nghiệp: sản xuất vẫn phát triển ổn định và tăng trưởng cao. Sản
xuất công nghiệp và xây dựng tăng 10,2% chiếm tỷ trọng 3,9% trong tốc độ tăng
trưởng chung. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 đạt 354 nghìn tỷđồng,
tăng 16% so với năm 2003 trong đó tăng cao nhất là khu vực ngoài quốc doanh
(22,8%), khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 15,7%.
Thứ hai: Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế với sự chuyển dịch ngành và chuyển
các thành phần kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tếđã có sự chuyển dịch theo hướng khu vực I (gồm nông
nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản) tuy vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao liên tục nhưng tỷ
trọng đã giảm xuống trong đó tỷ trọng khu vực II (công nghiệp và xây dựng cơ
bản) và khu vực III (gồm các ngành dịch vụ) đã tăng lên. Đến năm 2003 tỷ trọng
của khu vực I là 22%, khu vực II là 39%, khu vực III là 39%; năm 2004 thì tỷ
trọng các khu vực tương ứng là 21.8%; 40.1%; 32.2% .Các thành phần kinh tế
trong GDP cũng có sự chuyển dịch từ chủ yếu là quốc doanh, hợp tác xã sang đa
thành phần nhung vai trò chủđạo của kinh tế quốc doanh vẫn được tăng cường.
7
Thứ ba: Về cơ chế quản lý kinh tế mới đã bước đầu được hình thành. Nhà
nước đã xoá bỏ về cơ bản kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, xây
dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình hình
thành cơ chế thị trường, Nhà nước đã dần dần cải tổ bộ máy và các công cụ quản
lý. Từ chỗ chủ yếu sử dụng phương pháp hành chính coi kế hoạch hoá với các chỉ
tiêu pháp lệnh là công cụđể quản lý, điều hành nền kinh tế sang chủ yếu quản lý
bằng pháp luật kết hợp chính sách và các công cụđiều tiết vĩ mô như chính sách tài
chính, tiền tệ, thu nhập và chính sách kinh tếđối ngoại.
Thứ tư: Kinh tế nước ta đãđạt thành công lớn trong việc kiềm chế vàđẩy lùi
lạm phát. Trong những năm từ 1986 đến 1988 lạm phát tới ba con số (cao nhất là
774,7% năm 1986) nhưng đến năm 1989 lạm phát đãđược chặn lại ở hai con số sau
đó giảm xuống một con số (năm 1997 là 3,7%; năm 1999 là 0,1%; năm 2001 là
0,8%; năm 2002 là 4%; năm 2003 là 3% thậm chí còn có giảm phát vào năm 2000
là - 0.6%. Năm 2004 vừa qua lạm phát đã tăng lên 9,5%.
Thứ năm:Về kinh tếđối ngoại. Trong thời kì quáđộ cũng phát triển mạnh mẽ.
Chúng ta đã tham gia vào các tổ chức khu vực cũng như trên thế giới: gia nhập
ASEAN năm 1995, gia nhập AFTA năm 1996, gia nhập APEC năm 1998, ký hiệp
định thương mại Việt – Mĩ, nộp đơn gia nhập WTO năm 1994 và hiện nay đang
xúc tiến đàm phán để thực hiện mục tiêu gia nhập WTO trong năm nay. Tháng 10
năm 2004 vừa qua chúng ta đã tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu
lần thứ 5 (ASEM 5). Vàđến tháng 11 năm 2004 Việt Nam đã kí 86 hiệp định
thương mại song phương, 46 hiệp định khuyến khích và bảo hộđầu tư, 40 hiệp định
chống đánh thuế hai lần đối với các nước, vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại
với 160 nước và nền kinh tế, thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ như
WB, FDI, IMF, ODA…
1.2. Về xã hội
Trong suốt thời kì quáđộ chúng ta đãđạt được những chuyển biến tốt về mặt
xã hội. Nhìn chung đời sống vật chất, tinh thần của phần lớn nhân dân được cải
8
thiện một bước rõ rệt. Số hộ có thu nhập trung bình và số hộ giàu tăng lên ( hiện
nay lớn hơn 10%), GDP bình quân đầu người trong cả nước đạt 484,8 USD, khu
vực thành thịđạt tới 794,8%, khu vực Đông Nam Bộđạt 820,8 USD. Tỷ lệ hộ
nghèo giảm từ 30% năm 1992 xuống còn 10,8% năm 2003 và 9,03% năm 2004.
Một thành quả to lớn về xã hội phải kểđến là sự phát triển của hệ thống y tế,
giáo dục. Mạng lưới y tế bây giờđã rộng khắp luôn kịp thời chăm lo sức khoẻ cho
nhân dân. Ở hầu hết các xã phường thị trấn đều có các trạm xá với những cán bộ y
tếđãđược qua đào tạo. Thành công về y tế lớn nhất trong năm vừa qua là chúng ta
đã nhanh chóng kìm chế, khoanh vùng được dịch Sar cũng như dịch cúm gia cầm,
rồi những ca phẫu thuật cấy ghép tuỷ, thận…
Về giáo dục: Giáo dục ở Việt Nam trong những năm vừa qua luôn được coi
là quốc sách hàng đầu. Đảng và Nhà nước luôn có những chính sách hỗ trợ vàđầu
tư cho phát triển giáo dục nhưđầu tư cơ sở hạ tầng kĩ thuật, trợ cấp cho học sinh,
sinh viên…Kết quả là số người tham gia xóa mù chữở tất cả các cấp tăng lên 12%.
Về cơ bản nước ta đã phổ cập được tiểu học. Đến tháng 6 năm 2004 đã có 19 tỉnh
trong cả nước được công nhận phổ cập trung học cơ sở. Tính năng động sáng tạo
của người dân được khơi dậy và phát huy. Người lao động ngày càng chủđộng hơn
trong tìm kiếm việc làm tìm cách tăng thu nhập, tự cải thiện đời sống, tham gia ý
kiến đóng góp vào các sinh hoạt chung của cộng đồng, xã hội. Không còn nhiều
hiện tượng ỷ lại, thụđộng, trông chờ Nhà nước, dựa dẫm tập thể.
1.3. Về chính trị
Thứ nhất đã thực hiện tốt Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý. Sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam là một tất yếu
lịch sử và là tất yếu khách quan. Từ khi giành được thắng lợi trong cuộc cách mạng
Tháng 8 năm 1945, Đảng cộng sản Việt Nam về thực chất đã trở thành một Đảng
cầm quyền. Trong suốt mấy chục năm qua Đảng đã thành công trong việc vừa lãnh
đạo nhân dân tiến hành các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệđộc lập và
xây dựng một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Đảng luôn là lực lượng chính
trị duy nhất lãnh đạo cách mạng và lãnh đạo nhân dân, Đảng lãnh đạo toàn diện đối
9
với Nhà nước và mọi mặt của đời sống xã hội. Tuy nhiên, Đảng không tự biến
mình thành Nhà nước.
Thứ hai: Trong suốt thời kì quáđộ vừa qua nhìn chung chúng ta tiếp tục giữ
vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ chếđộ, chủ quyền đất
nước. Mặc dù những kẻ thùđịch không ngừng chống phá cách mạng trong nước,
mặc dù xảy ra khủng hoảng kinh tế, xã hội vào thời kì những năm 1996 – 2000
nhưng chính trị của nước ta vẫn được ổn định. Thành quả này là kết quả tổng hợp
của công cuộc đổi mới trong đó quốc phòng an ninh giữ vai tròđặc biệt quan trọng.
Các nhu cầu củng cố quốc phòng, cải thiện đời sống của lực lượng vũ trang luôn
được quan tâm đáp ứng. Chất lượng và sức mạnh quân đội luôn được nâng lên.
Thế trận quốc phòng toàn dân luôn được củng cố vững chắc, chủ quyền đất nước
càng được khẳng định rõ ràng. Như vậy, chúng ta đã thực hiện tốt chính sách kết
hợp kinh tế và an ninh quốc phòng.
Thứ ba: chúng ta thực hiện có kết quả nhiều bước quan trọng về hệ thống
chính trị.
Về củng cốĐảng: Trong thời gian qua Đảng đã từng bước bổ sung, cụ thể
hoáđường lối đổi mới, làm rõ dần con đường đi lên CNXH ở nước ta, củng cố về
chính trị, tư tưởng, tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo và tăng cường vai trò
lãnh đạo của Đảng trong xã hội.
Về phát huy quyền làm chủ của nhân dân: Tuy thực hiện cơ chếĐảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý nhưng Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền dân chủ, do
dân và vì dân. Điều đó thể hiện rõ nhất trong các cuộc bầu cửĐại biểu hội đồng
nhân dân các cấp theo chếđộ phổ thông đầu phiếu, chính người dân đã trực tiếp
được cầm phiếu đi bầu người đại diện cho mình – những người sẽ thay mặt họ
trình bày lên cơ quan cấp trên có thẩm quyền những vấn đề bất cập trong cuộc
sống hàng ngày, sẽ thay mặt họđòi hỏi những quyền lợi hợp pháp mà họđược
hưởng. Bên cạnh đó, đời sống của nhân dân các vùng dân tộc cũng được đặc biệt
chúý quan tâm, Đảng và Nhà nước đã tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi
lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển của cộng đồng
10
các dân tộc Việt Nam . Đảng luôn luôn tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, tập
quán, tín ngưỡng tôn giáo của các dân tộc, luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn
trọng vàđảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo nhưng cũng đồng thời chống
việc lợi dụng tín ngưỡng để xâm hại đến lợi ích quốc gia dân tộc.
Thứ tư: chúng ta phát triển mạnh mẽ quan hệđối ngoại, phá vỡ thế bao vây,
cô lập, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế. Chúng ta đã triển khai
tích cực và năng động đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng
hoá. Chúng ta đã khắc phục và tăng cường quan hệ với các nước công nghiệp phát
triển như Mỹ, Nhật, bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ, mở rộng quan hệ với các
nước Nam á, Châu Phi, Mỹ Latinh, Trung Đông, với các tổ chức quốc tế, khu vực,
đã tham gia vào các tổ chức ASEAN, AFTA, APEC…và sắp tới đây sẽ gia nhập
WTO . Chúng ta đã nối lại quan hệ với các quỹ tiền tệ như IMF, ODA… nên
chúng ta đãđược hỗ trợ rất nhiều về vốn – một yếu tốđầu vào quan trọng của sản
xuất. Đồng thời, chúng ta tiếp tục duy trì phát triển quan hệđoàn kết hữu nghị với
các Đảng cộng sản và công nhân các phong trào độc lập, các tổ chức và phong trào
cách mạng tiến bộ trên thế giới; thiết lập quan hệ với các Đảng cầm quyền.
Thành tựu trên lĩnh vực đối ngoại là một nhân tố quan trọng góp phần giữ
vững hoà bình, phá bỏ thế bị bao vây, cấm vận, cải thiện môi trường quốc tế, nâng
cao vị thế nước ta trên trường quốc tế.
2. Những hạn chế
Tuy đãđạt được những thành tựu to lớn nhưng trong thời kì quáđộ và trong
công cuộc đổi mới đất nước chúng ta đã còn mắc không ít khuyết điểm và yếu
kém.
2.1.Những hạn chế tồn tại trong kinh tế của thời kì quáđộ.
Một là: Nước ta đã có nhiều biện pháp thúc đẩy phát triển cơ chế thị trường
nhưng cho đến nay cơ chế thị trường vẫn còn sơ khai. Hệ thống quản lý kinh tế
nước ta còn đang trong quá trình chuyển đổi, luật pháp, cơ chế, chính sách chưa
đồng bộ, nhất quán và tác động cùng chiều để thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh
mẽ, nâng cao hiệu quả vàđúng hướng. Các kế hoạch định hướng phát triển kinh
11
tếvề quy hoạch, xây dựng, quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên…, thủ
tục hành chính có nhiều tiến bộ nhưng còn chậm chạp. Thường có sai sót mới sửa
đổi bổ sung chứ chưa đưa ra được từ khi ban hành nên còn nhiều bất cập trong hệ
thống hành chính quốc gia. Về thương nghiệp thì Nhà nước còn “bỏ trống” một số
“trận địa” quan trọng, chưa phát huy tốt được vai trò chủđạo trong lưu thông hàng
hoá, ổn định giá cả thị trường, bảo vệ sản xuất và tiêu dùng làm cho giá cả năm
vừa qua tăng lên tới 9,5%, xảy ra cả ngộđộc thực phẩm, người tiêu dùng mua phải
hàng giả, hàng kém chất lượng. Khâu quản lý xuất nhập khẩu còn nhiều sơ hở,
tiêu cực như nhập lậu, trốn thuế, nhận hối lộ… gây ra những tác động xấu không
nhỏ cho đối với sản xuất trong nước.
Ngoài tích luỹ nội bộ thấp thì vấn đề sử dụng vốn đầu tư cũng là vấn đề nan
giải. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tưđược phản ánh qua chỉ số ICOR. Vào đầu thập
kỉ 90 của thế kỉ XX chỉ số ICOR khoảng 0,4:1 – 0,5:1 thì năm 2001 là 4,12:1, năm
2003 là 4,92:1 chỉ số ICOR tăng cho thấy tốc độ phát triển của vốn lớn hơn giá trị
tăng thêm suy ra chúng ta sử dụng vốn đầu tư còn rất kém hiệu quả.
Ba là: Kinh tế tăng trưởng khá nhanh nhưng năng suất hiệu quả còn thấp.
Nhìn chung tốc độ tăng trưởng nền kinh tế chưa xứng với mức tăng đầu tư và thấp
hơn so với kế hoạch, tính bền vững vàđộđồng đều chưa cao, cơ cấu kinh tế chuyển
dịch còn chậm. Khu vực dịch vụ tuy được đầu tư khá xong tỷ trọng tăng chậm
trong cơ cấu GDP thậm chí năm 2004 còn giảm so với năm 2003 là 6,8%. Hệ
thống dịch vụ hỗ trợ sản xuất vừa thiếu vừa yếu và kém hiệu quả. Cơ cấu lao động
chuyển dịch chậm không tương ứng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là trong
khu vực nông nghiệp nông thôn ( năm 2003 còn chiếm lớn hơn 60% lao động).
Bốn là cạnh tranh còn yếu và trình độ kĩ thuật lạc hậu. Sức cạnh tranh và
năng lực quản lý của các doanh nghiệp còn yếu, thiếu sự chuẩn bịđểứng phó hiệu
quả với quá trình hội nhập đang diễn ra ngày càng sâu rộng (thể hiện rõở việc các
doanh nghiệp chưa thực sự chúýđến việc đăng kí nhãn hiệu cho sản phẩm của
mình). Xét về tiêu chí cạnh tranh của sản phẩm như giá cả, chất lượng, mạng lưới
tổ chức tiêu thụ thì hàng hoá của Việt Nam cũng có sức cạnh tranh yếu. Những mặt
12
hàng xuất khẩu chưa cóđược hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, hàng
xuất khẩu chủ yếu là thô hoặc sơ chế ví dụ như dầu khí, than… và chất lượng thấp.
Bên cạnh đó chưa xây dựng và sử dụng các biện pháp bảo vệ thị trường nội địa.
Một trong những nguyên nhân khiến cho cạnh tranh yếu là hàm lượng công nghệ
trong sản phẩm, trình độ lao động của Việt Nam còn thấp. Theo con số thống kê
Việt Nam có gần 40 triệu lao động thì có tới 83% lao động không có trình độ
chuyên môn kĩ thuật, số lượng công nhân được đào tạo nghề chiếm chưa tới 26 %.
III. Giải pháp cho con đường quáđộ lên CNXH ở Việt Nam.
Nhìn lại chặng đường quáđộ trong thời gian qua, chúng ta có quyền tự hào
về những thành tựu đãđạt được. Tuy nhiên đến nay vẫn còn một số mặt chưa được
củng cố vững chắc. Chính từ những thành tựu và những hạn chế còn tồn tại chúng
ta có thểđưa ra được những giải pháp để trong thời gian tới chúng ta đạt được
những thành tựu quan trọng hơn để hoàn thành nhiệm vụ của thời kì quáđộ lên
CNXH của Việt Nam để tiến đến một tương lai tươi đẹp xã hội xã hội chủ nghĩa.
1. Giải pháp về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Xu thế toàn cầu hoá hiện nay đang tạo cho chúng ta những thời cơ, những
thách thức. Do đó chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoáđể tạo ra
cơ sở vật chất kĩ thuật để chuyển dịch cơ cấu, để sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực khan hiếm của đất nước, tạo năng suất lao động xã hội cao, thúc đẩy tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao, bền vững. Muốn thực hiện thành công sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta cần phải có giải pháp đểđẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoáđất nước.
Trước hết, công nghiệp hoá, hiện đại hoáđòi hỏi nguồn vốn rất lớn do đó
chúng ta phải huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả. Chúng ta có thể huy động
vốn từ trong nước hay nước ngoài. Nguồn vốn trong nước được tích luỹ từ nội bộ
nền kinh tế quốc dân, muốn huy động được nguồn vốn trong nước điều kiện cần là
phải nâng cao hiệu quả sản xuất trên cơ sởứng dụng khoa học công nghệ, hợp lý
hoá sản xuất như thế sẽ làm tăng nhanh thu nhập của người lao động thì họ sẽ
cócác khoản dưđể tiết kiệm. Nhưng để cóđược tiết kiệm lớn thì Nhà nước và các
13
ngân hàng phải có những chính sách khuyến khích tiết kiệm như giảm thuếđánh
vào lãi suất, nâng lãi suất tiết kiệm, đấu tranh triệt để với nạn tham nhũng, lãng
phí. Nhưng nền kinh tế nước ta còn nghèo nàn nên tích luỹ vốn từ nội bộ nền kinh
tế là hết sức khó khăn, do đó cần tận dụng mọi khả năng để thu hút vốn đầu tư
nước ngoài. Muốn thu hút được vốn đầu tư nước ngoài buộc chúng ta phải có
những chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài, giảm bớt rườm rà trong thủ tục hành
chính, cải thiện được môi trường đầu tư theo hướng giảm giáđầu vào của sản xuất
thuộc độc quyền nhà nước như làđiện, viễn thông, dịch vụ cảng biển, phí cầu
đường…
Về nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động :Vấn đề thiếu lao
động có tay nghềđang là một vấn nạn chung. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực đáp ứng mục tiêu phát triển và hội nhập của đất nước thìĐảng, Nhà nước vàđịa
phương cần phải có chiến lược đào tạo nghề, chuẩn đội ngũ lao động có kĩ năng
tay nghề, trình độ chuyên môn kĩ thuật cao. Cần phải chuyển dần việc đào tạo
nghềđơn giản sang đào tạo đội ngũ lao động có nghề, có kĩ năng và có trình độ
chuyên môn kĩ thuật cao, có khả năng thích ứng nhanh với thị trường lao động. Cụ
thể làưu tiên đào tạo những ngành nghề mũi nhọn có tỷ trọng kinh tế cao, đòi hỏi
kĩ thuật, công nghệ mới như ngành cơ khí, chế tác, sinh học và dịch vụ tiên tiến…
Muốn nâng cao được trình độđội ngũ lao động thìđầu tiên cần phải phát triển giáo
dục phải tăng mức chi phí giáo dục bình quân đầu người lên (hiện nay Việt Nam
đang đứng gần cuối bảng xếp hạng của ngân hàng Deustche thấp hơn 24 lần so với
Singapo) và cũng phải đưa ra được chiến lược giáo dục hướng tới các kĩ năng mà
thị trường đang cần.
Về phát triển khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ cũng là một nhân tố
của lực lượng sản xuất. Để phát triển kinh tế buộc phát triển mạnh mẽ hơn nữa về
khoa học công nghệ. Khoa học công nghệ sẽđáp ứng được yêu cầu nâng cao năng
suất lao động, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh…
Phát triển khoa học công nghệ thì phải đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với các
mũi nhọn, lựa chon công nghệ thích hợp, khai thác được lợi thế của lao động.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét