Yên lấy đồng Việt Nam, do đó tạo nên cầu về đồng Việt Nam trên thị trường
ngoại hối.
Cung nội tệ cũng được sinh ra từ hai nguồn: một là lượng hàng hoá,
dịch vụ và tài sản nước ngoài mà người trong nước muốn mua; hai là lượng
vốn và các khoản chuyển nhượng từ trong nước ra nước ngoài. Người Việt
Nam muốn nhập khẩu hàng hoá của Nhật thì phải bỏ tiền đồng của Việt
Nam để mua lấy đồng Yên Nhật rồi mới có thể nhập khẩu hàng hoá.
Tỷ giá cân bằng trên thị trường chính là do sự tương tác giữa cung và
cầu nội tệ. Khi tỷ giá tăng thì cung nội tệ tăng và cầu nội tệ giảm; tỷ giá
giảm thì cung giảm, cầu tăng.
Nguyên nhân có sự thay đổi là vì khi tỷ giá tăng, tức đồng ngoại tệ
xuống giá hay đồng Việt Nam lên giá, thì giá cả hàng hoá trong nước trở nên
đắt hơn với người nước ngoài làm cho họ giảm mua hàng hàng hoá nước ta.
Như vậy khi cầu nội tệ tăng từ D
1
đến D
2
sẽ làm cho tỷ giá tăng từ e
1
đến e
2
như trên đồ thị.
Trường hợp đối với một nền kinh tế nhỏ, mở cửa trong điều kiện vốn
tự do chu chuyển.
Y= C(Y - T) + I(r*) + G + NX(e) IS*
M/P = L(r*.Y).
5
S
D
1
D
2
e
2
e
1
IS*
LM*
e
e*
Như vậy, trong một nền kinh tế nhỏ, mở cửa, lãi suất cố định thì tỷ giá
có thể thay đổi.
3, Tỷ giá hối đoái thực và danh nghĩa.
Chính những chức năng đó đã nói lên tỷ giá là một công cụ quản lý
kinh tế vĩ mô quan trọng. Vì vậy trong quá trình công nghiệp hoá của mình,
hầu hết các nước đều tìm cách phá giá đồng tiền của mình để kích thích xuất
khẩu và giảm động cơ tiêu dùng hàng hoá nhập khẩu. Có thể nói với cùng
một mức tỷ giá danh nghĩa mà tỷ lệ lạm phát của một quốc gia cao hơn tỷ lệ
lạm phát của nước đối tác trong quan hệ kinh tế thì hàng hoá của quốc gia đó
có khả năng cạnh tranh kém hơn hàng hoá của nước đối tác. Do đó, để so
sánh khả năng cạnh tranh của các quốc gia người ta thường sử dụng tỷ giá
hối đoái thực do đã loại trừ ảnh hưởng của lạm phát.
Tỷ giá hối đoái thực được xác định như sau:
e
N
P
e
r
=
P
*
P
T
e
r
=
P
N
Trong đó: e
N
là tỷ giá hối đoái trong nước.
P là chỉ số giá trong nước.
P
*
là chỉ số giá ở nước ngoài
P
T
là chỉ số giá hàng hoá có thể ngoại thương
6
P
N
là chỉ số giá hàng hoá không thể ngoại thương được.
Sự khác biệt quan trọng giữa tỷ giá hối đoái thực và tỷ giá hối đoái
danh nghĩa là ở chỗ tỷ giá hối đoái danh nghĩa so sánh giá trị của các đồng
tiền trong khi tỷ giá hối đoái thực so sánh giá của một rổ hàng hoá giữa thị
trường trong nước và thị trường quốc tế. Tỷ giá hối đoái thực là chỉ tiêu
quan trọng để phân tích khả năng cạnh tranh của các nước xuất khẩu. Đồng
nghĩa với giá trị đồng nội tệ giảm là khả năng cạnh tranh của hàng hoá nước
đó tăng lên và ngược lại.
4, Tỷ giá hối đoái ngang bằng sức mua
Nguyên lý ngang bằng sức mua (PPP) tuân theo quy luật một giá được
phát biểu như sau: tỷ giá hối đoái ngang bằng sức mua phản ánh sức mua
của đồng tiền tại hai nước. Tỷ giá hối đoái PPP tuyệt đối là:
P
*
e =
P
Trong đó: P và P* được hiểu là chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá bán
buôn. Khi tính đến sự xuất hiện của thuế quan, chi phí lưu thông, và nhiều
hàng hoá phi ngoại thương được bao gồm trong chỉ số giá thì tỷ giá hối đoái
thực không còn được giữ đúng nữa.Tuy vậy tỷ giá này vẫn giữ đúng về
tương đối. Nghĩa là mức thay đổi trong tỷ giá hối đoái sẽ phản ánh sự chênh
lệch trong mức thay đổi của giá cả và tỷ giá hối đoái ngang bằng sức mua là
tỷ giá được xác định dựa trên cơ sở duy trì khả năng cạnh tranh của mỗi
quốc gia. % e = % P
*
- % P.
5, Chế độ tỷ giá
7
Thực chất của chế độ tỷ giá là việc các chính phủ đặt ra các điều kiện
để xác định tỷ giá. Cho đến nay đã có ba chế độ tỷ giá là: tỷ giá cố định, tỷ
giá thả nổi và tỷ giá thả nổi có điều tiết.
Trước hết, chế độ tỷ giá cố định được áp dụng phổ biến ở các quốc gia
từ trước năm 1973. Đó là một chế độ mà tỷ giá được xác định thông qua
ngang giá vàng. Dưới chế độ này, nếu cầu đồng ngoại tệ vượt quá cung khi
có sự thâm hụt trong cán cân thanh toán thì Ngân hàng trung ương sẽ tung
ngoại tệ ra bán trên thị trường để tạo ra sự cân bằng cung cầu ngoại tệ. Động
thái này có thể sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trong lượng ngoại tệ dự trữ. Tuy vậy,
cũng không thể phủ nhận rằng chế độ tỷ giá cố định có tác dụng rất tích cực
trong việc thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế. Chính sự biến động của tỷ
giá là nguyên nhân làm cho kết quả kinh doanh trở nên không chắc chắn và
làm phát sinh rủi ro trong các giao dịch quốc tế và kìm hãm tăng trưởng và
phát triển doanh số của các giao dịch này.
Chế độ tỷ giá cố định còn buộc các chính sách kinh tế vĩ mô phải có
kỷ luật hơn. Vì một khi các chính phủ đã cam kết duy trì tỷ giá cố định nghĩa
là họ đã tự nguyện chấp hành kỷ luật trong chính sách kinh tế vĩ mô. Khi
chính sách kinh tế vĩ mô tỏ ra lỏng lẻo sẽ làm tăng áp lực phá giá tiền tệ.
Ngoài ra, để duy trì chế độ tỷ giá này phải tồn tại một mức độ hợp tác
quốc tế nhất định giữa các quốc gia. Các quốc gia thoả thuận cố định tỷ giá
thường cũng thoả thuận những biện pháp đi kèm để thực hiện khi tỷ giá chịu
áp lực tăng lên hay giảm xuống.
Như đã nói ở trên, muốn giữ được tỷ giá cố định cần có một lượng dự
trữ ngoại tệ đáng kể để có thể can thiệp một cách kịp thời tránh những biến
động quá lớn. Tỷ lệ lạm phát không đồng đều do việc tăng cung ứng tiền tệ,
bù đắp cho thâm hụt ngân sách đã làm cho việc duy trì tỷ giá cố định trở
8
thành không thể. Đó là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chế độ tỷ giá cố
định và thay thế bởi chế độ tỷ giá thả nổi từ năm 1973.
Chế độ tỷ giá thứ hai là chế độ tỷ giá thả nổi, ở chế độ này chính phủ
hoàn toàn không can thiệp vào thị trường ngoại hối mà tỷ giá được tự do xác
lập do quan hệ cung cầu thị trường. Về mặt lợi thế, tỷ giá thả nổi nên nó
luôn tự điều chỉnh để đảm bảo cân bằng thường xuyên trong cung cầu tiền tệ
trên thị trường ngoại hối. Trong trường hợp một quốc gia bị thâm hụt cán
cân vãng lại, đồng nội tệ giảm giá, dẫn đến nhập khẩu giảm và xuất khẩu
tăng cho đến khi nào cán cân trở lại cân bằng và ngược lại.
Chế độ này còn cho phép chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ độc
lập theo quan điểm riêng. Theo đó, các quốc gia có thể tự xác định mức lạm
phát tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể. Những quốc gia ưu tiên mức lạm phát
thấp được tự do áp đặt chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt sẽ qua thời kỳ nội
tệ lên giá.
Một điều đáng nói nữa là với tỷ giá thả nổi, nền kinh tế cách ly được
những ảnh hưởng các cú sốc về giá cả từ bên ngoài. Nếu giá nước ngoài tăng
thì tỷ giá sẽ thay đổi phù hợp với điều kiện tỷ giá hối đoái ngang bằng sức
mua, nghĩa là nội tệ sẽ lên giá để ngăn ngừa lạm phát ở mức không mong
muốn. Từ đó, tỷ giá thả nổi sẽ góp phần ổn định kinh tế, tỷ giá biến động lên
xuống được trong khi đó giá cả lại rất khó có thể giảm được. Khi nền kinh tế
giảm sức cạnh tranh quốc tế thì tốt nhất là để mặc cho nội tệ giảm giá hơn là
cố định tỷ giá để rồi phải áp dụng các chính sách để điều chỉnh giá trị đồng
tiền một cách tốn kém để khôi phục sức cạnh tranh quốc tế mà hậu quả của
nó là làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, giảm tiền lương.
Song thực tế đã chững minh rằng chế độ tỷ giá thả nổi thiếu sự điều
tiết của nhà nước lại cộng thêm tình trạng đầu cơ tài chính đầy rủi ro nên tỷ
9
giá đã biến động mạnh, phân phối các nguồn lực cho phát triển kinh tế nên
hiệu quả không cao.
Mặc dù tỷ giá hiện nay được phép thay đổi hàng ngày để đáp ứng
những lực lượng thị trường, nhưng các ngân hàng Trung Ương vẫn có những
động thái nhằm ngăn chặn những thay đổi lớn của tỷ giá. Điều này khiến các
hãng và cá nhân được dễ dàng hơn trong việc mua hoặc bán hàng hoá ra
ngoài để lập kế hoạch cho tương lai.
Hơn nữa, các nước có cán cân thanh toán dư thừa thường không muốn
thấy đồng tiền của mình tăng giá quá nhiều vì nó làm cho hàng hoá của họ
đắt hơn một cách tương đối so với hàng hoá trên thị trương nước ngoài và
hàng hoá của nước ngoài rẻ hơn trên thị trường nội địa của họ. Trái lại, các
nước có cán cân thanh toán thâm hụt không muốn thấy đồng tiền nước mình
giảm giá trị vì sẽ làm cho hàng hoá nước ngoài đắt hơn đối với người tiều
dùng trong nước và có thể thúc đẩy lạm phát.
Sau khi chế độ tỷ giá thả nổi sụp đổ, chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý
là một sự thay thế tốt nhất, vừa tận dụng được ưu điểm vừa hạn chế những
nhược điểm của hai chế độ tỷ giá trên. Đó cũng là lý do mà hiện nay chế độ
tỷ giá này được áp dụng phổ biến ở hầu hết các quốc gia.
10
II, Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá và tác động của nó
đối với nền kinh tế.
1, Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá.
Cung và cầu ngoại hối trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp
và nhạy bén đến sự biến động của tỷ gía hối đoái. Nói chung, mức cầu tiền
tệ thường biến đổi ngược chiều với tỷ giá hối đoái. Ví dụ như Nếu USD tăng
giá so với VND hàng nhập về với giá cao, khó tiêu thụ nên mức cầu về hàng
nhập giảm, đưa đến mức cầu USD cũng giảm theo và đồng USD cũng giảm.
Trái lại, khi tỷ giá VND so với USD giảm nên hàng nhập về sẽ rẻ hơn, do đó
nhà nhập khẩu mua nhiều USD hơn tức mức cầu USD tăng nhiều, từ đó tỷ
giá có thể tăng trở lại và người nhập sẽ không mua USD để nhập hàng thêm
nữa, USD có thể trở lại mức giá bình thường.
Ngoài ra mức chênh lệch lạm phát cũng có thể ảnh hưởng đến tỷ giá,
với một mức tỷ giá cân bằng nước nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn thì đồng
tiền mất giá nhiều hơn. Xuất phát từ công thức:
e
n
P
11
e
r
=
P
*
Dễ thấy, khi lạm phát ở trong nước tăng cao hơn so với lạm phát ở
nước ngoài, P sẽ tăng cao hơn P* làm cho tỷ giá thực tế tăng.
Tỷ giá còn chịu tác động rất lớn của tình hình cán cân thanh toán quốc
tế của một nước. Khi mức cung ngoại tệ trên thị trường hối đoái lớn hơn
mức cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ tăng tức giá ngoại tệ tính bằng nội tệ sẽ
giảm. Trái lại nếu cán cân thanh toán quốc tế của một nước bị thiếu hụt, có
nghĩa là tổng số chi ngoại tệ lớn hơn tổng số thu ngoại tệ tức cầu ngoại tệ
lớn hơn cung ngoại tệ; tỷ giá hối đoái sẽ giảm, ngoại tệ tăng giá và nội tệ
giảm giá.
Tình hình chính trị, kinh tế của một nước cũng ảnh hưởng không nhỏ.
tình hình chính trị ổn định sẽ tăng cường cơ hội thu hút vốn ngoại tệ từ nước
ngoài vào trong nước khiến tăng mức cung ngoại tệ; đồng thời người trong
nước không muốn chuyển vốn ra nước ngoài mà để đầu tư trong nước khiến
mức cầu ngoại tệ có thể thay đổi. Kết quả là tỷ giá hối đoái có thể tăng, giá
ngoại tệ giảm và tất nhiên giá nội tệ tăng. Nếu tình hình kinh tế chính trị có
những diễn biến ngược lại mức cầu ngoại tệ sẽ lớn hơn mức cung ngoại tệ vì
người có vốn trong nước và vốn của ngứoc ngoài ở trong nước có chiều
hướng mua hoặc chuyển đổi ngoại tệ để chuyển vào trong nước, nên tỷ giá
hối đoái có thể giảm. Hơn thế nữa những người có vốn ở nước ngoài sẽ e
ngại mà không chuyển vốn vào trong nước. Đó cũng là lý do làm giảm tỷ giá
hối đoái.
Nhân tố thứ ba phải kể đến là vấn đề đầu cơ tiền tệ. Trên thị trường
hối đoái, những người kinh doanh tiền tệ, tức mua và bán tiền nhằm mục
đích kiếm lời. Nếu dự đoán một loại tiền nào đó sẽ tăng giá, tức khắc người
ta mua loại tiền đó khi giá mua còn thấp để bán lại sau khi giá lên cao,
12
hưởng chênh lệch giá. Khi dự kiến một loại tiền nào đó sẽ giảm giá và giảm
đến mức nào đó sẽ tăng trở lại, họ lập tức bán ra đồng tiền sắp mất giá để
sau đó mua lại số đó mà vẫn được hưởng chênh lệch giá. Những việc làm
như vậy cũng làm cho mức cung và mức cầu ngoại tệ thay đổi và dẫn đến
làm thay đổi tỷ giá.
Hơn thế nữa, nền kinh tế của một nước tăng trưởng, mức lợi tức tính
theo đầu người gia tăng hay thu nhập thực tế của người dân tăng. Dẫn đến
một thực tế là nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu tăng do đó làm
tăng cung đồng nội tệ để mua ngoại tệ tăng lên làm cho tỷ giá giảm. Điều
này cũng có thể đúng khi xuất hiện một sản phẩm mới ở nước ngoài mà
người trong nước biết được. Nhu cầu mới được kích thích, gây áp lực tăng
cường nhập khẩu, làm tỷ giá biến động giảm.
Một nhân tố không thể không kể đến và có tác động rất lớn đến tỷ giá
hối đoái là mức chênh lệch lãi suất giữa các nước. Nước nào có lãi suất cáo
hơn sẽ thu hút được vốn ngoại tệ vào nhiều hơn và tăng mức cầu về đồng
nội tệ và làm tăng tỷ giá.
2, Tác động của tỷ giá đối với nền kinh tế.
Nhìn chung, nhân tố nào ảnh hưởng đến tỷ giá đều bị tỷ giá tác động
ngược trở lại.
Trước hết, đối với cán cân thanh toán quốc tế, khi cán cân thanh toán
bị thâm hụt sẽ làm giảm tỷ giá. Nhưng tỷ giá giảm lại khuyến khích xuất
khẩu, bù đắp dần cán cân thanh toán và có thể đưa cán cân thanh toán trở
cân bằng trở lại.
Như dã phân tích ở trên, khi tỷ giá trên thị trường giảm xuống thị
người nước ngoài có khuynh hướng mua hàng trong nước nhiều hơn trong
13
khi người trưong nước muốn mua hàng của nước ngoài ít hơn. Tỷ giá giảm
làm cho xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm, làm tăng sức cạnh tranh của hàng
hoá trong nước nếu tương quan giá cả không có sự thay đổi. Vì vậy có thể
nói, tỷ giá hối đoái có khả năng làm thay đổi sức cạnh tranh quốc tế.
Cũng vậy, tác động của tỷ giá đối với lãi suất, một công cụ đắc lực
trong điều hành, quản lý kinh doanh, góp phần gia tăng cạnh tranh và là
động lực thúc đẩy các hoạt động đầu tư, tiêu dùng, khi tỷ giá biến động tăng,
gây bất lợi cho nền kinh tế buộc ngân hàng trung ương phải can thiệp bằng
nhiều cách. Một trong số đó là thay đổi lãi suất chiết khấu. Việc làm này có
thể làm thay đổi toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội. Ví dụ, tỷ giá giảm ngân
hàng trung ương sẽ điều chỉnh tăng lãi suất chiết khấu, các ngân hàng
thương mại cũng sẽ phải tăng lãi suất cho vay và lãi suất huy động. Trong
nước, các doanh nghiệp sẽ hạn chế vay và dân cư cắt giảm chi tiêu làm tăng
cung về đồng nội tệ. Ngoài nước, việc làm đó sẽ thu hút đầu tư từ nước
ngoài, tăng vốn tiền gửi ngắn hạn và tăng cung ngoại tệ. Hoặc ngân hàng
trung ương có thể can thiệp trực tiếp vào thị trường tiền tệ, tổ chức kinh
doanh ngoại hối, thực hiện việc bán, mua ngoại tệ khi tỷ giá biến động giảm
hoặc tăng.
Như dã phân tích ở trên, khi tỷ giá trên thị trường giảm xuống thị
người nước ngoài có khuynh hướng mua hàng trong nước nhiều hơn trong
khi người trưong nước muốn mua hàng của nước ngoài ít hơn. Tỷ giá giảm
làm cho xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm, làm tăng sức cạnh tranh của hàng
hoá trong nước nếu tương quan giá cả không có sự thay đổi. Vì vậy có thể
nói, tỷ giá hối đoái có khả năng làm thay đổi sức cạnh tranh quốc tế.
Chỉ một sự thay đổi bất lợi hay sự biến động đột ngột của tỷ giá cũng
có thể là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của bất kỳ một nền kinh tế nào.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét