Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO tới ngành xuất khẩu gạo

Năm 2009, thị trường hàng hoá thế giới chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế nghiêm trọng, trong đó có lúa gạo. Dưới sự điều hành
xuất khẩu linh hoạt của Chính phủ, năm qua, cả nước đã xuất khẩu được 6,052 triệu
tấn gạo, kim ngạch XK gần 2,7 tỉ USD, đây là năm có số lượng xuất khẩu nhiều
nhất từ trước đến nay; trong đó chủng loại gạo cao cấp chiếm đến 40, 25%. Tổng
giá trị xuất khẩu đạt 2,463 tỉ USD (giá FOB); về số lượng tăng 29,35% so năm
2008. Đặc biệt, tỷ lệ gạo cao cấp XK đã đạt 50% (những năm trước chỉ khoảng
34%). Như vậy, mặc dù năm 2009 xuất khẩu nhiều hơn năm 2008 đến 1,352 triệu
tấn gạo, nhưng kim ngạch xuất khẩu giảm 200.000 đô la Mỹ, giá bán giảm 183,69
đô la Mỹ/tấn.
Tháng 4/2010 cả nước xuất khẩu 725.620 tấn gạo các loại, đạt 361,4 triệu
USD, giảm 49,71% về lượng và giảm 54,41% về trị giá so với tháng 3/2010. Tính
chung cả 4 tháng đầu năm lượng xuất khẩu đạt 2,2 triệu tấn, đạt kim ngạch 1,15 tỷ
USD, giảm 12,81% về lượng và giảm nhẹ 0,33% về kim ngạch so với cùng kỳ năm
2009. Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam gần như thấp nhất so với những nước xuất
khẩu gạo khác, giá bình quân 4 tháng đạt 532USD/tấn, tăng hơn 14% so với cùng
kỳ năm 2009 nhưng vẫn thấp hơn giá bình quân 3 tháng đầu năm là 549USD/tấn.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết, dù vẫn giảm 7,3% về lượng, xuất
khẩu gạo 5 tháng đầu năm đã tăng 0,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, xuất khẩu gạo từ đầu năm đến nay đã đạt trên 2,9 triệu tấn với kim ngạch
xấp xỉ 1,5 tỷ USD, bằng 58,4% kế hoạch cả năm, đồng thời đứng thứ 5 trong các
mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu dẫn đầu cả nước, xếp sau dệt may, dầu thô, da
giày và thủy sản. Có được kết quả này là do giá gạo xuất khẩu đã tăng khá hơn
trong năm nay. Cụ thể, giá gạo xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm đạt 513,43
USD/tấn, tăng khoảng 8,5% so với cùng kỳ năm trước (giá gạo xuất khẩu bình quân
5 tháng đầu năm 2009 chỉ đạt 473,37 USD/tấn).
5
Đơn vị : tấn
1.2.2. Cơ cấu thị trường:
Có thể nói rằng công tác thị trường của ngành xuất khẩu gạo đã có những tiến
bộ vượt bậc. Cho đến nay, gạo Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trường của trên 70
nước và vùng lãnh thổ, trong đó có các thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ nhưng
chủ yếu là sang Philippines; Malaysia; Cu Ba; Singapore. Theo một chuyên gia
trong lĩnh vực ngành hàng xuất khẩu, trong vài năm gần đây, sau khi đạt tới sự bão
hòa về khối lượng tại các thị trường truyền thống, các hoạt động khai phá để tạo sự
tăng trưởng ở các thị trường mới của các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu gạo là
không đáng kể.
Philippines vẫn dẫn đầu cả về lượng và kim ngạch, riêng tháng 4/2010 xuất
sang Philippines 229.030 tấn gạo, trị giá 153,5 triệu USD (chiếm 31,56% về lượng
và 42,48% về kim ngạch). Tính cả 4 tháng xuất sang Philippines hơn 1 triệu tấn gạo,
trị giá 640,7 triệu USD (chiếm 46,64% về lượng và 55,5% về kim ngạch).
Trong tháng 4/2010 cũng có thêm 4 thị trường xuất khẩu gạo đạt trên 10
triệu USD là: Singapore 43,4 triệu USD; Đài Loan 28,4 triệu USD; Malaysia 21,6
triệu USD; Hồng Kông 11,3 triệu USD.
Xuất khẩu gạo sang các thị trường trong tháng 4/2010 đa số đều giảm về
lượng và trị giá so với tháng 3/2010; trong đó dẫn đầu về sự sụt giảm là thị trường
6
Sản lượng xuất khẩu gạo năm 2007 - 2009
4500000
4700000
6052000
2007
2008
2009
0
1000000
2000000
3000000
4000000
5000000
6000000
7000000
Năm
Sản lượng
Cu Ba chỉ đạt 1.275 tấn, trị giá 0,51 triệu USD, giảm 98,7% về lượng và 98,84% về
kim ngạch; đứng thứ 2 về mức sụt giảm là thị trường Tiểu vương Quốc Ả Rập thống
nhất (-94,59% về lượng và -95,56% về kim ngạch); tiếp đến Italia (-86,06% về
lượng và -87,33% về kim ngạch); Indonesia (-73,97% về lượng và -78,44% về kim
ngạch); Philippines (-70,73% về lượng và 68,49% về kim ngạch); Malaysia
(-58,01% về lượng và -59,66% về kim ngạch); Nga (-52,47% về lượng và -55,8%
về kim ngạch)…
Chỉ có 5 thị trường tăng cả lượng và kim ngạch so với tháng 3/2010, dẫn đầu
về mức tăng trưởng dương là thị trường Pháp (+118,15% về lượng và +78,84% về
kim ngạch); thứ 2 là thị trường Hồng Kông (+113,61% về lượng và +70,95% về
kim ngạch); tiếp theo là Australia (+73,37% về lượng và +25,74% về kim ngạch);
Nam Phi (+61,26% về lượng và +49,66% về kim ngạch); Singapore (+34,75% về
lượng và +17,57% về kim ngạch). Riêng lượng gạo xuất sang Ucraina trong tháng
4/2010 tăng 17,45% về lượng nhưng giảm 0,78% về kim ngạch so với tháng
3/2010.
Trong tháng 4/2010 có 2 thị trường không tham gia xuất khẩu gạo là Tây Ban Nha
và Hà Lan.
Thị trường xuất khẩu gạo tháng 4/2010

Thị trường
Tháng 4/2010 4 tháng 2010
Lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
Lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
Tăng
giảm về
lượng T4
so T3(%)
Tăng
giảm
kim
ngạch
T4 so
T3(%)
Tổng cộng 725.620 361.359.655 2.168.597 1.153.924.498 -49,71 -54,41
Philippines 229.030 153.495.045 1.011.478 640.694.155 -70,73 -68,49
Singapore 106.578 43.352.674 185.671 80.225.154 +34,75 +17,57
Đài Loan 75.456 28.393.028 171.416 68.990.028 -21,37 -30,06
Malaysia 49.134 21.569.645 166.136 75.040.265 -58,01 -59,66
7
Hồng Kông 26.723 11.284.638 39.233 17.885.934 +113,61 +70,95
Nga 6.700 2.916.730 20.796 9.514.927 -52,47 -55,80
Nam Phi 4.875 2.150.000 7.898 3.586.587 +61,26 +49,66
Ucraina 4.375 1.864.538 8.099 3.743.668 +17,45 -0,78
Indonesia 3.385 1.773.925 16.390 10.000.920 -73,97 -78,44
Australia 1.543 696.333 2.433 1.250.125 +73,37 +25,74
Cu Ba 1.275 510.000 99.325 44.356.958 -98,70 -98,84
Pháp 613 230.314 894 359.093 +118,15 +78,84
Ba Lan 275 126.100 750 345.336 -42,11 -42,47
Italia 46 23.000 376 204.521 -86,06 -87,33
Tiểu vương
Quốc Ả
Rập thống
nhất
50 20.521 974 482.976 -94,59 -95,56
Hà Lan 0 0 327 191.000 * *
Tây Ban
Nha
0 0 119 80.290 *
CHƯƠNG II: MA TRẬN KẾT HỢP “SWOT” CỦA XUẤT KHẨU “GẠO”:
Từ khi Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương Mại Thế
Giới – WTO, nền kinh tế nói chung cũng như ngành xuất khẩu “gạo” nói riêng đã
có những bước phát triển không ngừng nhờ vào những điểm mạnh cũng như cơ hội
mà WTO mang lại cho Việt Nam. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể
không nhắc đến những khó khăn, thách thức mà WTO đã tác động tới. Chính vì vậy
chúng ta cùng nhau tìm hiểu: Ma trận kết hợp “SWOT” của ngành xuất khẩu “gạo”
trong thời gian Việt Nam đã gia nhập vào WTO:
Ma trận kết hợp SWOT
của ngành xuất khẩu
“gạo” Việt Nam sau khi
gia nhập WTO
Cơ hội
1.Thị trường nước
ngoài chưa bão hòa.
2.Các rào cản thuế
Thách thức:
1. Khủng hoảng tài
chính toàn cầu.
2. Do đồng Euro mất
8
quan và phi thuế quan
được phá vỡ nên cơ hội
phát triển là rất lớn.
3.Cơ hội tiếp xúc, làm
việc, học hỏi kinh nghiệm
và chuyển giao công nghệ
với các nước phát triển
như Mỹ, Nhật
4. Thu hút được sự đầu
tư và quan tâm của các tổ
chức ngân hàng lớn như
WB.
giá nên thách thức lớn đặt
ra cho việc xuất khẩu qua
các nước châu Phi.
3. Xuất hiện đối thủ
cạnh tranh mới như
myanmar, pakistan
4. Xu hướng bảo hộ
mậu dịch có chiều hướng
gia tăng.
Điểm mạnh
1.Gia nhập WTO, Việt
Nam có nhiều cam kết tạo
nên thế mạnh cho ngành
xuất khẩu “gạo” như cam
kết IRN, cam kết trợ cấp
nông nghiệp…
2. Được hưởng những
ưu đãi, đối xử công bằng
như các quốc gia trohg
WTO.
3. Thị trường tiềm năng
lớn.
4.Thị trường trong
nước tiếp tục ổn định.
Phối hợp SO
1. Chiến lược thâm nhập
thị trường:
(S1, S3, O1, O2).
2. Chiến lược phát triển
thị trường
( S1, S2, S4, O1, O2).
3. Chiến lược phát triển
sản phẩm theo hướng
nâng cao chất lượng sản
phẩm (S1, S2, S4, O3,
O4)
Phối hợp ST
Phát triển sản phẩm
với chất lượng cao (S1,
S3,S4, W1, W4).
Điểm yếu Phối hợp WO Phối hợp WT
9
1. Trợ cấp xuất khẩu
trong nông nghiệp bị phá
bỏ trừ trường hợp được
hưởng ưu đãi dành cho
nước đang phát triển.
2. Cơ sở hạ tầng, máy
móc trang thiết bị đầu tư
cho nông nghiệp cũng như
hệ thống vận chuyển còn
thấp…
3. Năng lực tài chính
còn hạn hẹp, nguồn thông
tin và nhân lực như các
chuyên gia trình độ dự
báo cung cầu còn nhiều
hạn chế.
4. Chính sách của chính
phủ chưa hợp lý…
1. Đổi mới công nghệ
(W2, W3, O3,O4)
2. Mở rộng thị trường sản
phẩm (W1, W4, O1, O2)
1. Chiến lược cạnh tranh
về giá
(W1, W2, W3, T1, T2)
2. Chiến lược hội nhập
phía sau
(W1, W2, T1, T4)
2.1. Điểm mạnh bên trong: (S – Strength)
Thứ nhất, khi gia nhập WTO, Việt Nam có nhiều cam kết tạo nên thế mạnh cho
ngành xuất khẩu “gạo” như cam kết IRN, cam kết trợ cấp nông nghiệp: Khi gia nhập
WTO, trong cam kết mở cửa thị trường nông sản trong đó có xuất khẩu “gạo” có
cam kết “quyền đàm phán ban đầu (INR) nghĩa là trong quá trình thực hiện cam
kết, một số trường hợp nhất định không lường trước được, Việt Nam có thể tăng
thuế nhập khẩu “gạo” cao hơn mức cam kết. Trường hợp đó, Việt Nam phải đàm
phán trước với những nước dành được Quyền đàm phán ban đầu (tên những nước
10
đó được ghi bên cạnh mỗi dòng sản phẩm trong Biểu cam kết). Những nước đề nghị
INR đối với nông sản của Việt nam chủ yếu là Mỹ, Úc, New Zealand, Braxin. Điều
này cho thấy thuận lợi cho việc bảo hộ ngành xuất khẩu “gạo” cũng như nâng cao
lợi thế cạnh tranh, khẳng định thương hiệu gạo của Việt Nam với các quốc gia cùng
ngành.
Trong cam kết về trợ cấp nông nghiệp: Việt Nam có quyền được trợ cấp nội địa
thuộc “hộp xanh lá cây”, không phải cắt giảm, cũng không bị các nước khác khiếu
kiện, các doanh nghiệp xuất khẩu “gạo” có thể đề xuất nhà nước áp dụng mà không
vi phạm cam kết trong WTO như:
Nhóm trợ cấp các dịch vụ chung: như trợ cấp nghiên cứu khoa học về
phân bón, đất đai, giống, kiểm soát dịch bệnh, kết cấu hạ tầng gồm điện,
đường, thủy lợi Điều này giúp cho năng suất lúa cao hơn, chất lượng tốt,
giá thành rẻ hơn, tạo được lòng tin từ nông dân giúp ngành xuất khẩu
“gạo” tốt hơn tạo được lợi thế về giá và có nguồn cung dồi dào so với các
nước khác.
Nhóm hỗ trợ giảm nhẹ thiên tai: như hỗ trợ các khoản chi phí nhằm
phục hồi sản xuất nông nghiệp cho những vùng bị thiên tai về giống, thuốc
bảo vệ thực vật, san ủi đồng ruộng. Với nhóm hỗ trợ này giúp cho bà con
nông dân an tâm hơn trong việc canh tác dẫn đến chất lượng tốt hơn, diện
tích đất trồng lúa không những không bị thu hẹp mà có thể còn mở rộng
hơn do đất đai màu mỡ, và tỉ lệ dân cư được phân bố tại vùng nông thôn rất
lớn và có trình độ học vấn thấp, giúp giải quyết vấn đề việc làm cho họ,
nâng cao đời sống, phục vụ cho việc xuất khẩu “gạo” phát triển hơn.
Theo quy định tại Hiệp định Nông nghiệp, thành viên WTO vẫn có thể
thực hiện các trợ cấp thuộc “hộp hổ phách” là các chương trình thu mua
gạo của chính phủ để can thiệp với mức 10% tổng trị giá sản lượng ngành
nông nghiệp đối với nước đang phát triển như Việt Nam.
11
Là nước đang phát triển trong WTO, Việt Nam cũng được hưởng các trợ cấp
nhằm giảm chi phí tiếp cận thị trường nước ngoài (cước phí vận chuyển, nâng phẩm
cấp để xuất khẩu…) và trợ cấp vận tải nội địa và quốc tế cho hàng xuất khẩu sẽ
không bị xếp vào các hình thức trợ cấp xuất khẩu bị cấm. Đây là điểm có lợi cho
Việt Nam khi gia nhập WTO để tăng lợi thế cạnh tranh về giá cho ngành xuất khẩu
“gạo” phát triển.
Thứ hai, được hưởng những ưu đãi, đối xử công bằng như các quốc gia trong
WTO. Thị trường xuất khẩu được mở rộng với mức thuế quan MFN (có nghĩa là
nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì nước
này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác) thấp và ổn
định. Như chúng ta đã biết trước khi trở thành thành viên của WTO, xuất khẩu
“gạo” nói riêng phải chịu mức thuế phổ thông (thường là mức thuế cao hơn) của
nước nhập khẩu. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các nước thành viên WTO (149
nước vào thời điểm 11/1/2007) có nghĩa vụ phải cho hàng hóa Việt Nam hưởng
thuế suất MFN theo cam kết của họ trong WTO. Đây là một lợi ích rất lớn của việc
gia nhập WTO mà các doanh nghiệp nông nghiệp cần tận dụng bởi vì khi đó doanh
thu sẽ gia tăng, đồng nghĩa với việc lợi nhuận sẽ tăng. Và khi gia nhập WTO, đối
với ngành lúa gạo là ngành mà Việt Nam có tiềm lực xuất khẩu mạnh, vì vậy cần
tận dụng cơ hội thuế nhập khẩu MFN vào các nước thành viên WTO thấp và ổn
định để đẩy mạnh xuất khẩu (chủ yếu thông qua việc nâng cao chất lượng sản
phẩm, uy tín thương mại, quảng bá sản phẩm).
Thứ ba, thị trường tiềm năng lớn: Hiện nay các Bộ, ngành đã dành sự quan
tâm thích đáng cho việc ban hành các văn bản pháp lý để thực hiện cam kết mở cửa
thị trường nông sản điển hình là việc nhập khẩu “gạo”. Một trong số những cam kết
đó là cam kết về thuế quan: mức thuế nhập khẩu của sản phẩm “gạo” thì giảm rất ít
hoặc không giảm và việc cắt giảm này cam kết được thực hiện trong vòng từ 3-5
năm kể từ khi gia nhập WTO, mức giảm thuế sẽ được chia đều cho mỗi năm trong
lộ trình cắt giảm. Điều này giúp củng cố niềm tin của cộng đồng quốc tế vào quyết
12
tâm của Chính phủ Việt Nam thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ thành viên bên
cạnh đó hiện nay Việt Nam đang áp dụng mức thuế nhập khẩu thấp hơn so với cam
kết đây là một vấn đề không đáng lo ngại bởi vì chúng ta có thể tăng thuế trở lại
trong tương lai khi có nhu cầu bảo hộ đối với ngành xuất khẩu gạo trong nước, thiết
lập được mối quan hệ ngoại giao để có cơ hội xâm nhập vào những thị trường tiềm
năng mới và hội nhập với thị trường gạo thế giới.
Thứ tư, thị trường trong nước tiếp tục ổn định: Việt Nam đã thành công trong
đàm phán gia nhập WTO về nông nghiệp và được giữ nguyên mức bảo hộ thuế
nhập khẩu nông sản nói chung và thuế nhập khẩu “gạo” nói chung ở mức như trước
khi gia nhập. Điển hình như cam kết thuế quan của Việt Nam đối với mặt hàng gạo
bình quân trong WTO là 40% (trừ giống lúa), đây là mức thuế bằng với mức MFN
hiện nay và mức thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập này sẽ vẫn được giữ ở
mức 40% mà không phải giảm nữa. Như vậy, sau 11/1/2007 (thời điểm gia nhập
WTO), thuế và các điều kiện nhập khẩu khác là hầu như không có sự thay đổi so
với trước khi gia nhập WTO. Thị trường trong nước vì thế ổn định, không phải chịu
sự cạnh tranh gay gắt đến từ phía “gạo” nước ngoài (từ góc độ thuế quan).
Từ đó chúng ta có thể thấy rằng, từ khi trở thành thành viên chính thức của
tổ chức thương mại thế giới WTO, đã tạo cho Việt Nam rất nhiều thuận lợi như các
chính sách hỗ trợ…Những hoạt động này giúp cho ngành xuất khẩu “gạo” tăng
thêm lợi thế cạnh tranh và tạo dựng được thương hiệu của mình trên thị trường thế
giới.
2.2. Điểm yếu bên trong: ( W- Weakness)
Thứ nhất, trợ cấp xuất khẩu trong nông nghiệp bị phá bỏ trừ trường hợp được
hưởng ưu đãi dành cho nước đang phát triển:
Là nước gia nhập sau, Việt Nam phải bãi bỏ tất cả các trợ cấp xuất khẩu trong
nông nghiệp nói chung và ngành xuất khẩu “gạo” nói riêng (trừ trường hợp được
hưởng đối xử ưu đãi dành cho nước đang phát triển). Bởi vì đây là biện pháp bị cấm
hoàn toàn đối với tất cả các quốc gia gia nhập WTO sau 1/1/1995. Như vậy, về cơ
13
bản, doanh nghiệp Việt Nam không hy vọng được hưởng các hình thức trợ cấp xuất
khẩu này. Đây chính là một điểm bất lợi hay là điểm yếu cho ngành xuất khẩu
“gạo” ở Việt Nam bởi vì nó sẽ làm tăng thêm chi phí và giảm sức cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường.
Thứ hai, cơ sở hạ tầng, máy móc trang thiết bị đầu tư cho nông nghiệp cũng
như hệ thống vận chuyển còn thấp:
Cơ sở hạ tầng còn yếu kém như hệ thống giao thông vận tải, máy móc đầu tư
cho sản xuất nông nghiệp còn thấp dẫn đến năng suất chưa cao, chất lượng chưa
đảm bảo, và tất nhiên là nguồn nguyên liệu đầu vào cho xuất khẩu “gạo” còn nhiều
hạn chế.
Không chỉ dừng lại ở đó, do đầu tư cho nông nghiệp thấp nên hiện nay nước
mặn đã xâm nhập sâu vào đất liền nhiều tỉnh ven biển. Đây là khó khăn rất lớn đối
với vụ đông xuân của bà con hơn thế nữa tình trạng hạn hán kéo dài cũng ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng, sản lượng lúa và khi đó giá thành sẽ tăng lên.
Đồng thời, bệnh dày nâu và bệnh đạo ôn đang đe dọa nguồn cung cho xuất
khẩu “gạo” ở nước ta. Theo thống kê, hiện có khoảng 80.000 ha lúa bị bệnh đạo ôn.
Điều đáng lo ngại là có tới 80% giống lúa mà nông dân dùng để gieo sạ đã nhiễm
bệnh này. Do trình độ và sự hiểu biết của họ chưa cao nên trong quá trình sản xuất
nông dân lại gieo sạ dày, bón phân đạm quá nhiều, gặp thời tiết bất lợi nên bệnh dễ
bùng phát và rất khó phòng trị. Trong khi đó, sau khi gia nhập WTO đối thủ của
chúng ta như Thái Lan đã áp dụng các máy móc công nghệ hiện đại vào sản xuất
cũng như gieo trồng lúa. Đây chính là điểm yếu mà chúng ta cần khắc phục để đẩy
mạnh việc xuất khẩu “gạo” bằng hình thức tạo ra một nguồn cung ứng dồi dào.
Bên cạnh đó, từ khi gia nhập WTO, thị trường xuất khẩu “gạo” của chúng ta có
thêm thị trường mới đó là những nước phát triển như Mỹ, những thị trường này có
giá cao hơn và tất nhiên là chất lượng sản phẩm cũng phải tương xứng và gạo xuất
khẩu của Việt Nam luôn có giá thấp nhất nếu so với gạo cùng loại của các nước
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét