Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Phương pháp dạy học môn Hóa hoc

Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vò: Trường THPT Trần Phú
Mã số:
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG
Lĩnh vực nghiên cứu :
• Quản lý giáo dục 
• Phương pháp dạy học bộ mơn : Hóa Học 
• Phương pháp giáo dục 
• Lĩnh vực khác 
Có đính kèm :
Mơ hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác 
Năm học : 2010 – 2011
1
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
SƠ LƯỢC VỀ LÝ LỊCH KHOA HỌC
I/ THƠNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN :
1. Họ và tên : Nguyễn Thị Phương Dung
2. Ngày, tháng, năm sinh : 25/10/1976
3. Nam, Nữ : Nữ
4. Địa chỉ : K37, khu phố 2 – phường Xn Bình – Thị xã Long Khánh – Đồng
Nai
5. Điện thoại : 0613726311 (CQ)/ ĐTDĐ : 0933.432.806
6. Fax :…………………………….E-mail :………………….
7. Chức vụ : Giáo viên
8. Đơn vị cơng tác : Trường THPT Trần Phú
II/ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO :
- Học vị (hoặc trình độ chun mơn, nghiệp vụ) cao nhất : Cử nhân Hóa học
- Năm nhận bằng : 1999
- Chun ngành đào tạo : Hóa học
III/ KINH NGHIỆM KHOA HỌC :
- Lĩnh vực chun mơn có kinh nghiệm
- Số năm kinh nghiệm : 11 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây :
1. Một số phương pháp giải nhanh các bài tốn trắc nghiệm hóa học
2. Sử dụng phương pháp trực quan vào giảng dạy chương Oxi – Lưu huỳnh
2
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP MƠN HĨA HỌC
BẰNG CÁCH LIÊN HỆ THỰC TẾ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Mơn Hóa học ở trường phổ thơng nếu khơng có những bài giảng và phương
pháp hợp lí phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp
thu, cảm nhận.Trước tình hình đó, Hóa học phải đổi mới phương pháp dạy học đã
và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong những yếu tố để
đạt giờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phát huy tính thực tế.
Có những vấn đề Hóa học giúp học sinh giải thích những hiện tượng trong
tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hóa
học trong những câu ca dao – tục ngữ mà thế hệ trước để lại và có thể ứng dụng
trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thơng mà
khơng gây nhàm chán, xa lạ; lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo,
hứng thú trong mơn học.
Trong việc dạy mơn hố học ở trường trung học, người giáo viên phải có
vốn kiến thức về thực tế sâu, rộng, có khả năng gắn bài giảng với thực tế, tạo ra
được những giờ học sinh động, nâng cao sự hiểu biết và kích thích sự ham mê học
tập của học sinh.
Chính vì vậy, tơi xin đưa ra sáng kiến kinh nghiệm : “ Tạo hứng thú học tập
mơn Hóa học bằng cách liên hệ thực tế”.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI :
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN :
1.1.CƠ SỞ KHOA HỌC :
1.1.1.Hóa học với thực tiễn cuộc sống :
a) Tác động của hóa học đến đời sống con người :
Khơng có mơn khoa học nào lại có nhiều ứng dụng như mơn Hóa học :
- Trong tự nhiên, nhờ có hóa học mà chúng ta có thể khám phá thiên nhiên,
nắm được tính chất, quy luật của thiên nhiên và con người ngày càng thành cơng
trong ngành khoa học khám phá vũ trụ, trái đất,…
- Trong đời sống, sản xuất : Hóa học được ứng dụng trong việc nghiên cứu
thành phần, tác dụng, chế biến, bảo quản lương thực, thực phẩm, các quy trình sản
xuất (sản xuất, chế biến các nguồn ngun liệu thơ thành các ngun liệu có thể sử
dụng trong đời sống sản xuất, chế biến các loại nơng sản, chế tạo ra các đồ dùng,
vật dụng hằng ngày).
b) Tác dụng của các kiến thức thực tế về hóa học :
- Giúp học sinh nắm được cơ sở hóa học, nắm vững và củng cố kiến thức cơ
bản về hóa học.
- Nắm nhanh và kĩ các kiến thức đã học trong bài. Hóa học là ngành hóa học
thực nghiệm, học lý thuyết và kiểm tra lại bằng các thí nghiệm. Chính việc tiến
hành các thí nghiệm sẽ phát sinh các vấn đề để các em có thể hiểu sâu và kĩ các
kiến thức đã học, qua đó các em hiểu bài hơn.
3
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
- Các kiến thức hóa học thực tế làm cho học sinh hiểu được vai trò to lớn
của hóa học trong đời sống : kinh tế, quốc phòng, sinh hoạt,… thúc đẩy sự ham hỏi
của học sinh.
- Giúp học sinh hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng trong đời sống
hằng ngày một cách đúng đắn. Các em sẽ nhận thức được những gì có ích, những
gì có hại để điều chỉnh hành vi của mình.
1.1.2. Tác dụng của việc liên hệ thực tế trong giảng dạy :
a) Với người thầy :
- Phát huy khả năng truyền thụ kiến thức của người thầy. Khi mở rộng kiến
thức hóa học thực tế trong bài giảng sẽ nâng cao hiệu quả giảng dạy.
- Mở rộng kiến thức hóa học thực tế rèn luyện một số kỹ năng dạy học :
+ Kỹ năng diễn đạt.
+ Kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học.
+ Kỹ năng tiến hành thí nghiệm.
+ Kỹ năng phân bố thời gian.
+ Kỹ năng giao tiếp
- Kích thích lòng ham thích học tập của học sinh
- Tạo ra giờ học lý thú bổ ích. Khi mở rộng kiến thức hóa học thực tế sẽ có
rất nhiều câu hỏi đặt ra kích thích học sinh tư duy trả lời, bầu khơng khí của lớp sẽ
trở nên sơi động, tạo điều kiện cho các học sinh còn nhút nhát tham gia vào bài
giảng.
- Gần gũi với học sinh. Khi giáo viên thực hành các kỹ năng nhằm tăng
hứng thú học tập cho học sinh, giáo viên sẽ có nhiều cơ hội giao tiếp với học sinh.
Nhờ đó mà sẽ tạo được ấn tượng tốt với học sinh
b) Với học sinh :
- Các em trở nên u thích mơn hóa. Khi học sinh được hiểu thấu đáo các
vấn đề hóa học, được tham gia vào các hoạt động thực tế… Các em sẽ có hứng thú
với mơn học vì các em đã nắm được tầm quan trọng của mơn học, từ đó nâng cao
thành tích học tập.
- Nắm được các kiến thức cơ bản của hóa học. Các kiến thức hóa học thực tế
lấy nền tảng là các kiến thức hóa học mà học sinh đã học ở nhà trường, tác dụng
của các kiến thức này là giải thích các bản chất của sự vật, hiện tượng do đó các
em sẽ có nhiều cơ hội tiếp xúc các kiến thức hóa học, các em sẽ nắm rõ các kiến
thức hơn.
- Hình thành kỹ năng tư duy, sử dụng sách… Các kiến thức mới ln thúc
đẩy học sinh tìm tòi phát hiện kiến thức trong sách báo.
- Phát huy tính tích cực sáng tạo trong học tập
1.1.3. Liên hệ thực tế là một biện pháp gây hứng thú học tập cho học sinh :
Cái mới ln là cái kích thích chúng ta tìm hiểu nhất. Việc liên hệ thực tế sẽ
thúc đẩy học sinh tìm tòi khám phá trong học tập. Hiểu và giải thích được các hiện
tượng tự nhiên là một động cơ thúc đẩy học sinh học tập. Các kiến thức hóa học sẽ
thu hút sự chú ý lắng nghe trong giờ học và ham thích học hỏi, tìm kiếm sách vở,
rèn luyện khả năng sử dụng sách… Qua đó, các em sẽ thấy được những lý thú của
các kiến thức đã học, tăng thêm lòng u thích mơn học.
4
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
Hứng thú học tập là một trong những yếu tố quyết định kết quả học tập của
học sinh. Học sinh có khả năng mà khơng có hứng thú thì cũng khơng đạt kết quả,
giáo viên giỏi chun mơn mà khơng có kỹ năng tạo hứng thú học tập cho học sinh
thì chưa thành cơng. Do đó đòi hỏi người giáo viên phải hội tụ kiến thức và tất cả
các yếu tố phục vụ cho cơng việc dạy học. Kỹ năng tạo hứng thú là kỹ năng quan
trọng nhất, mà để có được kỹ năng này thì đầu tiên người giáo viên phải có kiến
thức sâu, rộng, phải ln cung cấp cho học sinh lượng kiến thức : ĐỦ, ĐÚNG,
MỚI, THIẾT THỰC.
Với giáo viên bộ mơn Hóa học, kiến thức hóa học thực tế sẽ đáp ứng mặt
thiết thực của kiến thức.
1.2. THỰC TRẠNG DẠY HỌC MƠN HĨA HỌC Ở TRƯỜNG THPT TRẦN
PHÚ :
1.2.1. Thuận lợi :
- 100% giáo viên đã đạt chuẩn.
- Trong q trình giảng dạy mơn hóa, giáo viên đều cố gắng thay đổi
phương pháp giảng dạy của mình theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
thơng qua các phương pháp như : phương pháp trực quan, phương pháp giải quyết
vấn đề, phương pháp vấn đáp, phương pháp liên hệ thực tế trong bài giảng….
- Giáo viên đã có sử dụng các đồ dùng và phương tiện dạy học như thí
nghiệm, mơ hình, tranh …. và từng bước ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong dạy
học hóa học.
- Học sinh có chú ý nghe giảng, tập trung quan sát thí nghiệm, giải thích một
số hiện tượng trong cuộc sống và suy nghĩ trả lời các câu hỏi do giáo viên đặt ra.
- Học sinh tích cực thảo luận nhóm và đã đem lại hiệu quả trong q trình
lĩnh hội kiến thức.
1.2.2. Khó khăn :
Hiện nay ở trường, một số học sinh chưa biết tác dụng của mơn hóa học, do
việc giảng dạy ở trường còn mắc phải một số khuyết điểm :
- Còn thiên về lý thuyết thiếu thực tế.
- Chưa cung cấp cho học sinh các kiến thức hóa học có ứng dụng nhiều
trong thực tiễn.
- Do đầu vào thấp, cho nên khả năng vận dụng kiến thức để lý giải các tượng
liên quan đến hóa học đối với học sinh còn khó khăn.
* Do đó, để khắc phục các nhược điểm trên và để nâng cao khả năng vận
dụng lý thuyết vào thực tiễn, để tạo hứng thú trong việc học mơn Hóa học thì việc
liên hệ thực tế trong q trình giảng dạy là cần thiết.
2. NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI :
a) Liên hệ thực tế khi giới thiệu bài giảng mới.Cách nêu vấn đề này có thể
tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khơi hài hay một vấn đề rất bình
thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học
sinh trong q trình học tập.
Ví dụ 1 : Khi dạy về bài CLO (ở lớp 10), giáo viên có thể mở bài như sau :
5
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
- GV : Mỗi khi mở vòi nước máy chúng ta thường ngửi thấy có mùi xốc rất
khó chịu. Đó là vì tại nhà máy nước người ta đã sục vào đó một chất khí có tác
dụng diệt khuẩn. Các em có biết khí đó là khí gì khơng ?
- HS có thể biết sẽ trả lời đó là khí clo.
- GV : Đây cũng là tên bài học của chúng ta hơm nay.
* Cách giới thiệu này sẽ tạo cho học sinh chú ý hơn để tìm hiểu tại sao clo
lại có tính chất như vậy. Và trong q trình học về tính chất của khí Clo các em sẽ
giải thích được như sau :
Khi sục vào nước một lượng nhỏ clo, nước có tác dụng sát trùng do clo tan
một phần (gây mùi) và một phần với nước :
H
2
O + Cl
2
HCl + HClO
Hợp chất HClO khơng bền có tính oxi hóa mạnh :
HClO → HCl + O
Oxi ngun tử có khả năng diệt khuẩn.
Ví d ụ 2 : Khi dạy về bài Amoniac và muối amoni (ở lớp 11), giáo viên có thể mở
bài như sau :
- HS suy nghó trả lời :
* Trong q trình học về tính chất của muối amoni, học sinh sẽ hiểu được hiện
tượng trên là do :
(NH
4
)
2
CO
3
được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm vào bột mì, lúc hấp bánh
thì (NH
4
)
2
CO
3
sẽ bị phân hủy dưới tác dụng của nhiệt :
(NH
4
)
2
CO
3

o
t
→
2NH
3
↑ + CO
2
↑ + H
2
O↑
Như vậy, khi hấp bánh bao khí CO
2
, NH
3
thốt ra để lại vơ số lỗ nhỏ trong bánh
bao làm cho bánh bao vừa to lại vừa xốp và có mùi khai là mùi đặc trưng của
amoniac.
Ví dụ 3 : Khi dạy về bài PHOTPHO (ở lớp 11), giáo viên có thể liên hệ thực tế khi
mở bài như sau :
- GV : Trong “Văn tế thập loại chúng sinh”, thi hào Nguyễn Du đã viết :
“Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẵng tối trời còn thương”
Thế “ma trơi” là cái gì vậy ? Các nhà văn tưởng tượng ra chăng ? Khơng
phải, “ma trơi” quả là có thật. Nếu các em có dịp đi qua các nghĩa trang vào ban
đêm thì các em sẽ thấy tại một số ngơi mộ tỏa ra những ngọn lửa màu xanh lãng
đãng lập lòe mà dân gian thường gọi là “ma trơi”. Bài học ngày hơm nay sẽ giúp
các em hiểu được hiện tượng này. Đó là bài PHOT PHO.
* Sau khi học xong bài Photpho giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu được hiện
tượng trên là do :
6
- GV : Khi ăn bánh bao ta thường thấy có những lổ xốp. Đó là do những
bọt khí thoát ra để lại các lổ hổng trên bột. Đó là khí gì vậy ?
- GV : Thành phần để làm bánh bao là bột nở (NH
4
)
2
CO
3
. khi nhiệt phân
sẽ giải phóng ra khí CO
2
và 1 chất khí có mùi khai. Khí mùi khai này có tính
chất gì? Nó có độc không, ăn bánh bao có nguy hiểm không ? Bây giờ chúng ta
sẽ tìm hiểu tính chất của chất khí trên qua bài : Amoniac và muối amoni
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
Trong cơ thể (xương động vật) có chứa một hàm lượng photpho khi chết
phân hủy tạo một phần thành khí PH
3
(photphin), khi có lẫn một chút khí P
2
H
4
(diphotphin), khí PH
3
tự bốc cháy ngay trong điều kiện thường tạo thành khối cầu
khí (lửa “ma trơi”)bay trong khơng khí. Bất kể ngày hay đêm đều có PH
3
bay ra ở
các nghĩa trang, chỉ có điều là ban ngày ánh sáng mặt trời q mạnh nên ta khơng
thấy được ma trơi.
2PH
3
+ 4O
2
→ P
2
O
5
+ 3H
2
O
Điều trùng lặp ngẫu nhiên là : Người ta thường gặp “Ma trơi” ở các nghĩa
địa càng tăng thêm sự mê tính dị đoan.
Ví dụ 4 : Khi học bài OZON (ở lớp 10), giáo viên có thể mở bài như sau :
- GV : Sau mỗi trận mưa, các em cảm thấy bầu trời, khí hậu như thế nào ?
- HS : Bầu trời quang đãng hơn, khí hậu mát mẻ hơn.
- GV : Thật vậy, sau cơn mưa to sấm nổ đùng đùng, khi mưa tạnh, nắng lên,
mọi người thường cảm thấy như căn phòng, đường xá, khu phố… thậm chí cả bầu
trời xanh kia mát mẻ trong lành hẳn lên. Hít thở cũng thật dễ chịu. Đó là ngun
nhân gì nhỉ ? Để hiểu được điều này, hơm nay chúng ta sẽ học bài : OXI – OZON.
* Trong khi học về phần Ozon, học sinh sẽ hiểu được hiện tượng trên là do :
Khi có những tia chớp điện thì một phần oxi trong khơng khí sẽ biến thành ozon :
3O
2
→ 2O
3
Ozon khi rất lỗng khơng có mùi hơi, ngược lại còn cho con người ta có
cảm giác tươi mát, thanh sạch dễ chịu. Nó còn có tác dụng sát trùng, làm sạch
khơng khí, rất có lợi cho cơ thể con người.
Ví dụ 5 : Khi học về bài IOT (ở lớp 10), giáo viên có thể mở bài như sau :
- GV : Hằng ngày, các em thường ăn muối gì ?
- HS : Đó là muối iot ?
- GV : Tại sao phải ăn muối có iot ?
- HS : Để trị bệnh bướu cổ.
- GV : Ăn muối iot để bổ sung hàm lượng iot cho cơ thể, trong cơ thể một
người trưởng thành có chứa 20 - 50mg iot chủ yếu tập trung tuyến giáp trạng, thiếu
iot trong tuyến này thì cơ thể sẽ bị một số bệnh : Bướu cổ, nặng hơn là dẫn đến đần
độn, phụ nữ thiếu iot dẫn đến vơ sinh, có biến chứng sau khi sanh. Mỗi ngày phải
đảm bảo cho cơ thể hấp thụ với < 150 microgam iot. Vậy iot có những tính chất
như thế nào ? Bài IOT hơm nay sẽ giúp chúng ta tìm hiểu về tính chất của ngun
tố này.
b) Liên hệ thực tế qua các phản ứng hóa học cụ thể trong bài học. Cách nêu
vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý
nghĩa thực tiễn bài học. Giáo viên có thể giải thích để giải tỏa tính tò mò của học
sinh.
Ví dụ 1 : Khi dạy bài ANKIN, sau khi học xong phần điều chế axetilen, giáo viên
có thề liên hệ thực tế như sau :
- GV : Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết ? Trong nơng nghiệp, đất
đèn dùng để làm gì ?
- HS : Đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua, khi tác dụng với nước
sinh ra khí axetilen và canxi hydroxit.
7
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
CaC
2
+ 2H
2
O → C
2
H
2
↑ + Ca(OH)
2

Các chất này làm tổn thương đến các hoạt động hơ hấp của cá, vì vậy có thể
làm cá chết.
Trong nơng nghiệp, từ lâu người ta đã dùng đất đèn để làm kích thích quả
xanh mau chín và chín đồng loạt ở các kho, thường dùng để dú chuối, cà chua…
Ví dụ 2 : Khi dạy về bài FLO (lớp 10), sau khi học xong tính chất của axit HF,
giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Tại sao khơng đựng dung dịch HF trong bình thủy tinh .
- HS : Dung dịch HF, tuy là axit yếu nhưng có tính chất đặc biệt là ăn mòn
thủy tinh. Do thành phần của thủy tinh chính là SiO
2
, khi cho dung dịch HF vào thì
có phản ứng :
SiO
2
+ 4HF → SiF
4
+ 2H
2
O
Ví dụ 3 : Khi dạy về bài LƯU HUỲNH (ở lớp 10), sau khi học xong tính chất hóa
học của lưu huỳnh tác dụng với kim loại, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Tại sao khi đánh rơi nhiệt kế thủy ngân thì khơng được dùng chổi
qt mà nên rắc bột S lên trên ?
- HS : Thủy ngân là kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy ngân là
một chất độc. Vì vậy, khi làm rơi nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi qt thì
thủy ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng q trình bay hơi làm cho q trình thu gom
khó khăn. Ta phải rắc bột S lên những chỗ có thủy ngân, vì S có thể tác dụng với
thủy ngân tạo thành HgS dạng rắn và khơng bay hơi.
Hg + S → HgS↓
Q trình thu gom thủy ngân cũng đơn giản hơn.
Ví dụ 4 : Khi dạy bài MỘT SỐ HỢP CHẤT QUAN TRỌNG CỦA KIM LOẠI
KIỀM, sau khi học xong tính chất của NaHCO
3
, giáo viên có thể liên hệ như sau :
- GV : Vì sao muối NaHCO
3
được dùng để chế thuốc đau dạ dày ?
- HS : Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày là người
có nồng độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO
3
dùng để chế thuốc
đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản
ứng :
NaHCO
3
+ HCl → NaCl + CO
2
+ H
2
O
Ví dụ 5 : Khi dạy về bài PEPTIT VÀ PROTEIN (ở lớp 12), sau khi học xong phần
tính chất của protein, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau
- GV : Giải thích vì sao khi nấu canh cua thì có gạch cua nổi lên ? Khi nấu trứng
thì lòng trắng trứng kết tủa lại ?
- HS : Vì trong những trường hợp đó có xảy ra sự kết tủa protit bằng nhiệt, gọi là
sự đơng tụ. Một số protit tan trong nước tạo thành dung dịch keo, khi đun nóng sẽ
bị kết tủa.
Ví dụ 6 : Khi dạy về bài AXIT CACBOXYLIC (ở lớp 11), giáo viên có thể liên hệ
thực tế như sau :
- GV : Vì sao khi bơi vơi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau ? (Giáo viên có thể cung
cấp cho học sinh thơng tin : trong nọc ong, kiến, nhện có axit HCOOH)
- HS : Do trong nọc ong, kiến, nhện có axit hữu cơ tên là axit fomic (HCOOH).
Vơi là chất bazo nên trung hòa axit làm ta đỡ đau.
8
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
2HCOOH + Ca(OH)
2
→ (HCOO)
2
Ca + 2H
2
O
Ví dụ 7 : Khi dạy về bài NHƠM VÀ HỢP CHẤT CỦA NHƠM, sau khi học xong
tính chất của muối nhơm sunsat, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Vì sao phèn chua có thể làm trong nước ? (Câu này nếu học sinh khơng giải
thích được thì giáo viên phải diễn giải cho học sinh hiểu)
- HS : Phèn chua là muối sunfat kép của nhơm và kali ở dạng tinh thể ngậm nước :
K
2
SO
4
.Al
2
(SO
4
)
3
.24H
2
O
Phèn chua khơng độc, có vị chua, ít tan trong nước lạnh nhưng tan nhiều
trong nước nóng. Khi tan trong nước, phèn chua sẽ bị thủy phân và tạo thành
Al(OH)
3
ở dạng kết tủa keo lơ lửng trong nước :
Al
2
(SO
4
)
3
→ 2Al
3+
+ 3SO
4
2-
Al
3+
+ H
2
O → AlOH
2+
+ H
+
AlOH
2+
+ H
2
O → Al(OH)
2
+
+ H
+
Al(OH)
2
+
+ H
2
O → Al(OH)
3
+ H
+
Al
2
(SO
4
)
3
+ 3H
2
O → 2Al(OH)
3
+ 3H
2
SO
4
Chính những hạt Al(OH)
3
kết tủa dạng keo lơ lửng ở trong nước này đã kết
dính với các hạt bụi bẩn, các hạt đất nhỏ để trở thành hạt đất to hơn, nặng hơn và
lắng xuống. Vì vậy, mà nước trở nên trong hơn.
Ví dụ 8 : Khi dạy về bài AMIN (ở lớp 12), sau khi học xong tính bazo yếu của
amin giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Tại sao khi nấu canh cá người ta thường nấu canh chua ?
- HS : Bởi vì chất chua (axit lactic có trong nước dưa, axit axetic có trong
dấm, axit citric có trong chanh ) rất có dun với cá. Nó nâng cao hương vị của
món canh chua cá. Mặt khác, nó còn hạn chế mùi tanh của canh khi ăn. Vì trong
chất tanh của cá có chứa hỗn hợp các amin như : đimêtyl amin, trimetyl amin. Hai
amin trên có tính chất bazo yếu. Trong các chất chua dùng để nấu cá đều có các
axit hữu cơ chúng có phản ứng với các amin có tính bazo yếu trong cá tạo thành
muối do đó sẽ giảm hay làm mất vị tanh của cá.
Ví dụ : CH
3
COOH + (CH
3
)
2
NH → CH
3
COOH
2
N(CH
3
)
2
c) Liên hệ thực tế sau khi đã kết thúc bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo
cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hiện tượng ở
nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao
lại có hiện tượng đó ?
Ví dụ 1 : Sau khi học xong bài PHÂN BĨN HĨA HỌC (ở lớp 11). Để tạo cho học
sinh ở khu vực làm nơng nghiệp có thể kiểm nghiệm trong đời sống, giáo viên có
thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : “ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Câu ca dao mang hàm ý khoa học hóa học như thế nào ?
- HS : Câu ca dao nhắc nhở người làm lúa : Vụ chiêm khi lúa đang trổ đòng
đòng mà có trận mưa rào, kèm theo sấm chớp thì sẽ rất tốt và cho năng suất cao
sau này.
- GV : Em hãy giải thích câu ca dao trên ?
9
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
- HS : Do trong khơng khí có ~ 80% khí N
2
và ~ 20% khí O
2
, khi có sấm
chớp (tia lửa điện) sẽ tạo điều kiện cho N
2
hoạt động :
N
2
+ O
2

 →
C
0
3000
2NO
Sau đó : 2NO + O
2
→ 2NO
2
Khí NO
2
sẽ tan vào trong nước mưa :
4NO
2
+ O
2
+ 2H
2
O → 4HNO
3
HNO
3
→ H
+
+ NO
3
-
- GV : Nhờ hiện tượng này, hàng năm làm tăng 6 – 7kg N cho mỗi mẫu đất.
Ngày nay, người ta đã điều chế Ure [(NH
2
)
2
CO] từ khơng khí để chủ động bón cho
cây trồng. Trong nền nơng nghiệp hiện đại, cần phải dùng nhiều phân bón và
nhiệm vụ của ngành cơng nghiệp hóa chất “hướng về khơng khí đòi lương thực” là
càng lớn.
Ví dụ 2 : Sau khi học xong bài TÍNH CHẤT CỦA KIM LOẠI (ở lớp 12), giáo
viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Tại sao nhơm lại được dùng làm dây dẫn điện cao thế ? Còn dây
đồng lại được dùng làm dây dẫn điện trong nhà.
- HS : Tuy đồng dẫn điện tốt hơn nhơm nhưng nhơm (khối lượng riêng của
nhơm là 2,70g/cm
3
) nhẹ hơn đồng (khối lượng riêng của đồng là 9,1). Do đó, nếu
như dùng dây đồng làm dây dẫn điện cao thế thì phải tính đến việc xây các cột điện
sao cho chịu được trọng lực của dây điện. Việc làm đó khơng có lợi về mặt kinh tế.
Còn trong nhà việc chịu trọng lực của dây dẫn điện khơng ảnh hưởng lớn lắm. Vì
vậy, ở trong nhà thì ta dùng dây dẫn điện bằng đồng.
Ví dụ 3 : Sau khi học xong bài OZON, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Vai trò của ozon trong đời sống và cơng nghiệp như thế nào ?
- HS : Suy nghĩ trả lời
- GV củng cố : Ozon có khả năng “cải tạo” nước thải, có thể khử các chất
độc như : phenol, hợp chất xianua, nơng dược, chất trừ cỏ, các hợp chất hữu cơ gây
bệnh… có trong nước thải và ozon có thể tác dụng với các ion kim loại (sắt, thiếc,
chì, mangan…) biến nước thải thành nước sạch vơ hại.
Trên tầng cao khí quyển 10 – 30km quanh trái đất, ozon tồn tại thành một
tầng khí quyển riêng, có khả năng hấp thụ các tia tử ngoại phát ra từ mặt trời. Vì
các tia tử ngoại làm cho con người, động thực vật bị đột biến gen, gây bệnh nan
y… Gần đây do cơng nghiệp phát triển, các nhà máy xuất hiện khí thải, động cơ
phản lực… thải vào khí quyển một lượng bụi và khí ơ nhiễm, thì ozon lại góp phần
oxi hóa chất gây ơ nhiễm, cũng chính vì vậy mà tầng ozon bị mỏng dần. Trong
vòng 50 năm gần đây, lượng ozon bị thủng và gây ra khơng ít hiện tượng như :
bão, lũ lụt, cháy rừng, bệnh nan y…
Ví dụ 4 : Sau khi học xong bài TINH BỘT (ở lớp 12), giáo viên có thể liên hệ thực
tế như sau :
- GV : Vì sao ban đêm khơng để nhiều cây xanh trong nhà ?
- HS : Ban ngày, do có ánh sáng mặt trời nên cây xanh tiến hành q trình
quanh hợp, hấp thụ CO
2
trong khơng khí và giải phóng khí oxi
6nCO
2
+ 5nH
2
O
as
clorophin
→
(C
6
H
10
O
5
)
n
+ 6nO
2

10
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
Nhưng ban đêm, do khơng có ánh sáng mặt trời, cây xanh khơng quang hợp,
chỉ có q trình hơ hấp nên cây hấp thụ khí O
2
và thải ra khí CO
2
, làm cho phòng
thiếu khí O
2
và có nhiều khí CO
2
.
Ví dụ 5: Sau khi học xong bài MỘT SỐ HỢP CHẤT QUAN TRỌNG CỦA KIM
LOẠI KIỀM THỔ, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Tục ngữ Việt Nam có câu : “Nước chảy đá mòn”, câu này mang hàm
ý của khoa học hóa học như thế nào ?
- HS : Trong đá, thơng thường chủ yếu là CaCO
3
.

Vì trong nước có lẫn khí
CO
2
nên sẽ xảy ra phản ứng :
CaCO
3
+ CO
2
+ H
2
O → Ca(HCO
3
)
2
Khi nước chảy sẽ cuốn Ca(HCO
3
)
2
trơi theo, qua thời gian đá sẽ bị
mòn dần.
- GV (Có thể giải thích bổ sung thêm ngun nhân khác ): Trong đá, thơng
thường chủ yếu là CaCO
3
nên trong nước sẽ tồn tại phương trình điện li :
CaCO
3
Ca
2+
+ CO
3
2-
(*)
Khi nước chảy sẽ cuốn theo các ion Ca
2+
, CO
3
2-
, theo ngun lí chuyển
dịch cân bằng thì cân bằng (*) chuyển dịch theo chiều chống lại sự giảm nồng độ
Ca
2+
, CO
3
2-
(chiều thuận) nên theo thời gian nước chảy qua đá sẽ mòn dần.
Ví dụ 6 : Sau khi học xong bài ANKAN, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Làm thế nào để biết dưới giếng có khí độc (CO), hoặc nhiều khí
thiên nhiên (CH
4
) và khơng có khí oxi, để tránh khi xuống giếng bị ngạt ?
- HS : Khi xuống giếng phải đeo bình oxi. Còn muốn biết có khí độc (CO),
hoặc nhiều khí thiên nhiên (CH
4
) và khơng có khí oxi chỉ cần lấy dây buộc một
con gà, vịt thả xuống nếu nó chết thì chứng tỏ có khí độc.
- GV : Trong các giếng đào đặc biệt nhiều vùng đồng bằng thường có khí
độc CO, CH
4
và khơng có khí O
2
. Mà người dân chúng ta có thói quen xuống
giếng. Đã có nhiều trường hợp tử vong một lúc nhiều mạng người vì gặp khí độc
(CO) gây đơng máu, CH
4
và khơng có oxi gây ngạt trong tíc tắc, làm người
xuống cứu cũng chết.
Ví dụ 7 : Sau khi học xong bài IOT (ở lớp 10), giáo viên có thể liên hệ thực tế như
sau :
- GV : Nêu cách lấy dấu vân tay của tội phạm lưu trên các vật ở hiện trường chỉ
sau một vài phút thí nghiệm :
Lấy một tờ giấy sạch, ấn một ngón tay vào mặt giấy rồi nhấc ra sau đó đem
phần giấy có dấu vân tay đặt trên miệng ống nghiệm có đựng cồn iot, dùng đèn cồn
để đun nóng phần đáy ống nghiệm. Đợi cho khí màu tím thốt ra (I
2
) từ ống
nghiệm thấy phần giấy có vân tay dần hiện lên rõ nét (màu nâu). Nếu bạn cất tờ
giấy có vân tay đi mấy tháng sau làm tương tự cũng vẫn có hiện tượng như trên
Do đầu ngón tay có chất béo, dầu khống, mồ hơi, khi ấn tay vào giấy sẽ lưu
lại một phần trên giấy mặc dù mắt thường khơng nhận ra. Các chất này khi gặp hơi
iot cho màu nâu (chú ý hơi iot rất độc khơng được ngửi).
Ví dụ 8 : Sau khi học xong bài MỘT SỐ HỢP CHẤT QUAN TRỌNG CỦA
NATRI, giáo viên có thể liên hệ thực tế như sau :
- GV : Vì sao khi luộc rau muống nên cho vào trước một ít muối ăn NaCl ?
11
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
- HS : Do nhiệt độ sơi của nước ở áp suất 1at là 100
0
C, nếu ta thêm NaCl thì
lúc đó làm cho nhiệt độ của nước muối khi sơi là > 100
0
C. Do nhiệt độ sơi của
muối cao hơn của nước nên rau chín nhanh hơn, thời gian luộc rau khơng lâu nên
rau ít mất vitamin. Vì vậy, khi đó rau muống sẽ mềm hơn và xanh hơn.
Ví dụ 9 : Sau khi học xong bài CACBON (ở lớp 11), giáo viên có thể liên hệ thực
tế như sau :
- GV : Vì sao khi cơm khê người ta thường cho vào nồi cơm một mẩu than
củi ?
- HS : Do than củi xốp có tính hấp phụ, nên hấp phụ được mùi khét của cơm
làm cho cơm đỡ mùi khê.
d) Liên hệ thực tế thơng qua những câu chuyện ngắn có tính chất khơi hài,
gây cười có thể xen vào bất cứ thời gian nào trong suốt tiết học. Hướng này có thể
góp phần tạo khơng khí học tập thoải mải. Đó cũng là cách kích thích niềm đam mê
học hóa.
Ví dụ 1 : Khi dạy bài HĨA HỌC VÀ VẤN ĐỀ MỐI TRƯỜNG (ở lớp 12), sau khi
học xong phần “Ơ nhiễm khơng khí”, giáo viên có thể kể câu chuyện hài :
- GV :
+ Một nhà thơng thái thuyết trình ở hội nghị bảo vệ mơi trường : “Tại sao
người ta khơng nghĩ đến việc xây dựng thành phố ở nơng thơn nhỉ ? Ở đó khơng
khí trong lành, lo gì bị ơ nhiễm”
+ Cả hội trường cười ầm lên.
Ví dụ 2 : Khi dạy về bài SẮT (ở lớp 12), giáo viên có thể vào bài bằng câu chuyện
:
Hồi đầu thế kỉ XIX, các nhà bác học đã phát hiện ra sắt có trong máu người
dưới dạng huyết cầu tố (hemoglobin). Một sinh viên khoa Hóa đã làm gì khi nghe
cơ gái mình u hỏi anh ta lấy gì làm bằng chứng cho tình u đang chảy cuồn
cuồn trong cơ thể anh ta ?
Anh ta đã quyết định tặng người u dấu một chiếc nhẫn bằng … sắt, nhưng
khơng phải bằng sắt thơng thường mà bằng sắt lấy từ chính máu của mình ! Cứ
định kì lấy máu ra, chàng trai thu được một hợp chất mà từ đó tách sắt ra bằng
phương pháp hóa học.
Nhưng chiếc nhẫn đã khơng bao giờ được đeo trên tay cơ gái như một bằng
chứng tình u bởi … nó chưa được làm ra thì chàng trai đã chết vì bị mất máu,
cho dù lượng sắt lấy ra khỏi cơ thể chàng chưa tới … 3 gam !
Các chàng trai, cơ gái ngày nay vẫn nhớ câu chuyện này. Nhưng chẳng ai
chứng tỏ tình u bằng cách này nữa, cho dù thật cảm động.
Ví dụ 3 : Khi học về bài BENZEN (ở lớp 11), ở cấu trúc của phân tử benzen, giáo
viên có thể kể cho học sinh nghe một giai thoại về Kekule :
Một lần, Kekule ngồi trên xe bt ở London và nghĩ mãi mà chưa tìm ra
được một cấu tạo nào tương ứng với tính chất của benzen. Ơng mơ màng nhìn ra
ngồi xe và chợt thấy trên cành cây ở cơng viên có sáu con khỉ, con nọ đánh đu
vào chân con kia thành vòng sáu cạnh. Trong khi nơ đùa, có lúc các chú khỉ bám
với nhau bằng cả hai chân hai tay, có lúc lại chỉ bằng một cặp tay chân. Một tia
chớp nảy ra trong đầu ơng :
12
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
- “Phải chăng sáu ngun tử cacbon trong benzen cùng liên kết với nhau
giống như sáu chú khỉ con vui vẻ kia ?”
Kekule đã xác định được cấu trúc vòng của benzen và xây dựng lí thuyết các
hợp chất thơm nhờ … các chú khỉ.
Ví dụ 4 : Khi học về bài VẬT LIỆU POLIME, giáo viên có thể kể cho học sinh
giai thoại “Phát minh do … ngủ qn” (khi dạy về nilon) :
Một đêm Carothers – nhà hóa học Mĩ, sau nhiều ngày đêm làm việc căng
thẳng, định chớp mắt ít phút. Nhưng … ơng đã ngủ liền tới sáng. Tỉnh dậy, ơng hốt
hoảng lo cho tất cả cơng sức thí nghiệm : có lẽ đã tan thành mây khói ? Ai ngờ, khi
vừa nhấc chiếc đũa thủy tinh ở trong bình phản ứng lên, ơng thấy chiếc đũa mềm
nhũn và kéo theo một hỗn hợp có dạng sợi nhỏ mỏng manh óng ánh rất đẹp. Đó là
sợi tổng hợp poliamit đầu tiên trên thế giới – sợi nilon ngày nay.
Ví dụ 5 : Khi học bài CHẤT GIẶC RỬA, ở phần “Xà phòng”, giáo viên có thể kể
câu chun hài sau :
- Mẹ : Tại sao con nghịch xà phòng làm bẩn hết nước của mẹ ?
- Con : Khơng phải con nghịch đâu! Thấy nước bẩn, con lấy xà phòng rửa
nước đấy. Như là mẹ rửa tay bẩn của con bằng xà phòng ấy mà!
e)Tiến hành tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời
sống hằng ngày… sau khi đã học bài giảng. Cách nêu vấn đề này có thể làm cho
học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hay tự tái tạo lại
kiến thức qua các thí nghiệm. Giúp học sinh phát huy khả năng ứng dụng hóa học
vào đời sống thực tiễn.
Ví dụ 1 : Sau khi học xong bài TINH BỘT (ở lớp 12), giáo viên có thể giới thiệu
thí nghiệm “Hồ tinh bột tác dụng iot” để học sinh có thể tự làm thí nghiệm kiểm
chứng ở nhà.
* Cách làm : Lấy một ít cồn iot (mua ở nhà thuốc tây) bơi lên quả chuối
xanh và quả chuối chín.
* Giải thích (dựa vào kiến thức đã học, học sinh sẽ tự giải thích được) : Do
cồn iot là dung dịch của iot trong ancol etylic, iot gặp tinh bột (trong chuối xanh)
tạo ra phức màu xanh. Nhưng nếu là chuối chín thì khơng có hiện tượng này (do
chuối chín chuyển tinh bột thành đường glucozo).
Ví dụ 2 : Sau khi học xong bài SƠ LƯỢC VỀ MỘT SỐ KIM LOẠI (ở lớp 12),
giáo viên có thể giới thiệu hiện tượng sau để học sinh có thể tự kiểm nghiệm trong
cuộc sống.
* Cách làm : Khi có người bị cảm, ta có thể đánh cảm bằng dây bạc và khi
đó dây bạc bị hóa đen. Để dây bạc trắng sáng trở lại, ta sẽ ngâm vào nước tiểu.
* Giải thích : Người bị cảm trong cơ thể sinh ra những hợp chất dạng
sunfua (S
2-
) vơ cơ hay hữu cơ đều có tính độc. Khi đánh cảm bằng bạc, do S có ái
lực mạnh với bạc nên xảy ra phản ứng tạo bạc sunfua (Ag
2
S) kết tủa màu đen. Do
đó chất độc được loại ra khỏi cơ thể và cũng làm cho dây chuyền thành màu đen,
Ag + S
2-
→ Ag
2
S
Trong nước tiểu có NH
3
, khi ngâm dây bạc vào thì sẽ có phản ứng :
Ag
2
S + 4NH
3
→ 2[Ag(NH
3
)
2
]
+
+ S
2-
Nên Ag
2
S bị hòa tan, bề mặt dây bạc lại trở nên sáng bóng.
13
Tr ườ ng THPT Trần Phú GV : Nguyễn Thị Phương Dung
Ví dụ 3 : Sau khi học xong bài ANKIN (ở lớp 11), giáo viên có thể giới thiệu thí
nghiệm vui “Đốt nước đá cháy” để học sinh có thể tự làm thí nghiệm ở nhà.
* Cách làm : Ta đặt sẵn vài mẫu canxi cacbua (đất đèn), rồi lấy một ít nước
đá bỏ vào ống bơ thấp và rộng miệng rồi bật diêm đốt trên mặt ống bơ. Thật kì lạ!
Nước đá bốc cháy.
* Giải thích : Khi bỏ nước đá vào CaC
2
sẽ có tác dụng với nước giải phóng
khí C
2
H
2
:
CaC
2
+ 2H
2
O → C
2
H
2
+ Ca(OH)
2
Khí C
2
H
2
thốt lên mặt nước đá, khi đốt nó sẽ cháy trơng giống hệt nước đá
cháy vậy.
2C
2
H
2
+ 5O
2
→ 4CO
2
+ 2H
2
O
Ví dụ 4 : Sau khi học xong bài MỘT SỐ HỢP CHẤT QUAN TRỌNG CỦA KIM
LOẠI KIỀM THỔ, giáo viên có thể giới thiệu thí nghiệm sau để học sinh có thể tự
làm để kiểm nghiệm.
* Cách làm : Lấy vơi sống (CaO) cho vào nước, rối thả ngay một quả trứng
vào, trứng sẽ chín.
* Giải thích : Khi vơi sống gặp nước sẽ xảy ra phản ứng :
CaO + H
2
O → Ca(OH)
2
+ Q
Nhiệt lượng tỏa ra rất lớn đến nổi làm cho nước sơi. Do vậy, sau khi cho vơi
vào nước rồi thả một quả trứng, trứng sẽ chín.
f) Để nâng cao kiến thức hóa học thực tế, giáo viên có thể phối hợp với nhà
trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh như đưa các em đi tham
quan các nhà máy sản xuất, các khu cơng nghiệp… Qua đó, các em sẽ có cơ hội
tham khảo, bổ sung các kiến thức còn trống và tìm hiểu xác thực hơn tác động của
hóa học đến đời sống của chúng ta.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI :
Sau khi áp dụng một số phương pháp mở rộng kiến thức thực tế trong bài
giảng hóa học vào các tiết dạy, tơi thấy đã đạt được kết quả khả quan :
+ Lớp học sinh động, sơi nổi, giúp nâng cao hứng thú học tập của các em.
+ Chất lượng bài giảng được nâng lên rõ rệt : học sinh dễ tiếp thu và nhớ bài
lâu hơn.
+ Giúp các em phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập .
+ Phát triển năng lực chú ý, óc tò mò khoa học.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG :
Qua thực tế giảng dạy, tơi nhận thấy một vài điểm cần lưu ý sau :
1. Về phía giáo viên :
- Để thực hiện tốt, người giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài giảng, xác định
được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liên quan phù
hợp với học sinh. Hình thành giáo án theo hướng phát huy tính chủ động của học
sinh, phải mang tính hợp lí và hài hòa.
2. Về phía nhà trường :
- Nhà trường cần bổ sung thêm sách tham khảo cho giáo viên ở thư viện.
- Nhà trường cần bổ sung thêm một số hóa chất và dụng cụ cho đầy đủ để
việc thực hành thí nghiệm được tốt hơn.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét