CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN
VÀ ĐỊNH GIÁ VIỆT NAM (VAE)
1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty VAE.
Tên công ty : Công ty TNHH Kiểm toán và Định giá Việt Nam
Tên tiếng Ạnh : Vietnam Auditing and Evaluation limited company
Tên giao dịch : VAE
Văn phòng chính tại Hà Nội : Tầng 11, toà nhà Sông Đà, 165 Cầu
Giấy, Hà Nội
Tel : 844.2670492
844.2670491
Email : vae co@fpt.vn
Công ty được thành lập dựa trên cơ sở giấy chúng nhận kinh doanh số
0103000692 ngày 21/12/2001 do Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp. Qua 5
năm hoạt động công ty đã thay đổi tên nhiều lần và có thể chia ra làm ba giai
đoạn chủ yếu sau:
Giai đoạn đầu: được tính từ ngày 21/12/2001 đến đầu năm 2004. Công ty
VAE là công ty cổ phần và thuộc quyền sở hữu của các cổ đông và có trụ sở
tại: 466 Nguyễn Trí Thanh quận Đống Đa Thành Phố Hà Nội. Với vốn điều lệ
là một tỷ đồng, Công ty có khoảng 10 nhân viên, cơ sở vật chất của công ty
chưa có nhiều nên công ty còn gặp nhiều khó khăn. Từ khi thành lập đến nay
công ty đã thay đổi 6 lần giấy phép kinh doanh do tăng các loại hình dịch vụ
cung cấp, do thay đổi trụ sở chính, thay đổi vốn điều lệ. Trong thời gian này
công ty quản lý theo từng lĩnh vực chuyên môn khác nhau như kiểm toán tài
chính, tư vấn và định giá, kiểm toán đầu tư xây dựng cơ bản.
5
Năm 2002, để thuận lợi cho việc hoạt động và mở rộng quy mô, công
ty chuyển trụ sở đến số nhà 5 dãy D số 142 Đường Đội Cấn, phường Đội Cấn,
Quận Ba Đình, Thành Phố Hà Nội, tuy nhiên đây vẫn là trụ sở đi thuê. Năm
2003 công ty từng bước ổn định và kinh doanh mở rộng hơn.
Giai đoạn sau: 30/03/2004 Chính Phủ ban hành nghị định số 105 đã tạo
điều kiện thuận lợi về thị trường cho các công ty kiểm toán, để đáp ứng nhu
cầu của thị trường cũng như để tạo môi trường làm việc ổn định cho cán bộ
công nhân viên với mục đích lâu dài, công ty đã mua trụ sở tai tầng 11 Toà
nhà Sông Đà, số 165 Đường Cầu Giấy, Hà Nội, đây là trụ sở chính của công
ty. Cũng trong thời gian này, để phục vụ cho việc mở rộng thị trường công ty
tăng vốn điều lệ lên 2 tỷ đồng, và công ty cũng thay đổi tổ chức quản lý đó là
thực hiện khoán doanh thu, khoán các khoản chi phí chi điện thoại, khoán quỹ
lương về các phòng nghiệp vụ. Điều này làm tăng hiệu quả công việc và nâng
cao trách nhiệm của cán bộ công nhân viên.
Đến 01/10/2006, Công ty chuyển sang Công ty TNHH nhiều thành
viên, cơ cấu tổ chức theo Luật doanh nghiệp, nhưng chức năng các phòng
nghiệp vụ vẫn giữ như cũ. Công ty đã mở chi nhánh, văn phòng đại diện trong
nước: Thành Phố Hồ Chí Minh, Sơn La, Hà Giang. Hiện nay vốn điều lệ của
Công ty là khoảng 3 tỷ đồng và Công ty nằm trong 12 công ty kiểm toán có
khả năng được thẩm định giá trị của một doanh nghiệp.
2 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty VAE
2.1 Đặc thù về tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty.
Để tạo điều kiện phát triển công ty ngày càng lớn mạnh trong những
năm tới, công ty đã dần thay đổi và hoàn thiện bộ máy quản lý theo hướng
mới, với nguyên tắc tổ chức của Công ty VAE tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và tôn trọng pháp luật.
6
+ Cơ quan quyết định cao nhất của công ty là Hội đồng thành viên. Ban
kiểm soát được lập từ thành viên của Hội đồng.
+ Tổng giám đốc công ty do Hội đồng thành viên bầu và miễn nhiệm
và là người điều hành kinh doanh của công ty. Các Phó giám đốc và kế toán
trưởng do Tổng giám đốc chỉ định và được phê chuẩn bởi Hội đồng thành
viên.Sau đây là Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty:
Sơ đồ 1.1: Bộ máy tổ chức của Công ty
CÁC VĂN PHÒNG
ĐẠI DIỆN
TP HỒ
CHÍ
MINH
HỘI ĐỒNG THÀNH
VIÊN
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM
ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM
ĐỐC
HỘI ĐỒNG
KHOA HỌC
PHÒNG
NGHIỆP
VỤ I
PHÒNG
NGHIỆP
VỤ II
PHÒNG
NGHIỆP
VỤ III
SƠN LAHÀ
GIANG
PHÒNG
TỔNG
HỢP
7
2.2 Chức năng nhiệm vụ các phòng ban trong Công ty VAE
◊ Hội đồng thành viên: gồm các thành viên, là cơ quan quyết định cao
nhất của Công ty, có quyền quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch phát
triển hàng năm của công ty, quyết định các mức lương thưởng và lợi ích khác
đối với Chủ tịch hội đồng thành viên, có quyển bầu, bãi nhiệm Chủ tịch hội
đồng thành viên, Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc. Nhiệm kỳ của hội
đồng thành viên là hai năm.
◊ Tổng Giám đốc: Tổng Giám đốc do hội đồng thành viên bầu chọn, là
người trực tiếp điều hành các hoạt động hằng ngày, phụ trách tài chính, tổ
chức phòng nghiệp vụ II, tổng hợp điều hành công ty theo đúng nghị quyết
của Hội đồng thành viên và của Ban Giám đốc.
◊ Các Phó tổng giám đốc: là người phụ trách từng phòng ban nghiệp
vụ, các văn phòng đại diện của công ty. Các Phó Tổng giám đốc sẽ thay mặt
Tổng Giám đốc, giải quyết một số công việc khi Tổng Giám dốc vắng mặt.
Hai Phó Tổng Giám đốc, mỗi người chịu một lĩnh vực tài chính và xây dựng.
◊ Hội đồng khoa học: Bộ phận này giữ vai trò quan trọng trong việc
tham mưu cho Hội đồng thành viên và Ban giám đốc công ty trong việc đưa
ra những quyết định kinh doanh. Hội đồng khoa học còn tham gia vào việc cải
tiến và hoàn thiện quy trình kiểm toán, tham gia đào tạo các cán bộ công nhân
viên của công ty.
◊ Các phòng nghiệp vụ của công ty: Đây là bộ phận trực tiếp thực hiện
các hợp đồng kinh doanh, trực tiếp cung cấp các dịch vụ cho khách hàng và
tạo lợi nhuận cho công ty, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó tổng giám đốc.
Tại mỗi phòng nghiệp tổ chức theo phương thức bổ ngang tức là trong một
phòng đều cung cấp các dịch vụ kiểm toán tài chính, kiểm toán quyết toán
vốn đầu tư, tư vấn…
8
◊ Phòng tổng hợp: Phòng tổng hợp bao gồm bộ phận kế toán và bộ
phận hành chính. Bộ phận kế toán có nhiệm vụ giúp Ban Giám đốc quản lý
mọi hoạt động tài chính của công ty, kiểm tra việc thực hiện các chỉ têu tài
chính, bộ phận kế toán theo dõi và quản lý tài sản của công ty, các nguồn lực
của công ty…Bộ phận hành chính làm nhiệm lễ tân, tiếp khách hàng, kiểm
tra, quản lý các giấy tờ công văn được chuyển đến công ty và thông báo cho
những người có liên quan
Các văn phòng đại diện của công ty tại các tỉnh và thành phố, có nhiệm vụ
giao dịch và khai thác khách hàng, ký kết hợp đồng. Khi các hợp đồng đã
được ký kết công ty sẽ phân công các nhân viên phù hợp tại trụ sở để tiến
hành công việc.
3 Kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của Công ty VAE
Từ khi được thành lập đến nay, Công ty đã không ngừng phát triển cả
về quy mô và chất lượng dịch vụ, nhất là từ khi chuyển sang công ty TNHH
nhiều thành viên doanh thu cũng như uy tín của công ty ngày càng lớn và đã
có một vị thế trong các công ty kiểm toán độc lập. Thể hiện trước hết là doanh
thu của công ty không ngừng tăng lên nhanh chóng, có năm tăng đột biến cụ
thể ta có bảng cơ cấu doanh thu của công ty:
(Đơn vị : 1.000 đồng )
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
1.Doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ
4.115.687 12.000.445 13.000.000
2.Giá vốn hàng bán 2.150.315 8.900.540 9.190.000
3.Thuế TNDN 290.000 560.050 450.150
4.Lợi nhuận sau thuế 1.189.424 2.150.860 2.225.370
Bảng 1.1: Báo cáo kết quả kinh doanh tóm tắt của công ty
(số liệu lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh của công ty)
9
Qua số liệu ta thấy doanh thu của công ty tăng khá nhanh trong năm
2005 so với năm 2004 là hơn 7 tỷ đồng, tương đương với tăng 291%, nguyên
nhân tăng nhanh trong năm 2005 là do thị trường của công ty mở rộng, hiệu
quả của quản lý theo cơ chế mới. Mặt khác Chính phủ ban hành Quyết Định
105 cũng ảnh hưởng lớn đến các công ty kiểm toán, về mặt mở rộng thị
trường cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán.Một ảnh
hưởng không nhỏ tới doanh thu của công ty là: hiện nay các công ty Nhà
Nước đang trong quá trình cổ phần hoá vì thế dịch vụ định giá phát triển, làm
cho doanh thu của công ty trong lĩnh vực này tăng lên, hơn nữa nhu cầu về
thay đổi cơ chế quản lý doanh nghiệp trên thị trường cũng làm cho dịch vụ
định giá tài sản tăng lên, dịch vụ định giá được xem như thế mạnh của công
ty. Thêm vào đó là do sự phát triển của cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh
nghiệp không ngừng cải thiện chất lượng quản lý nên dịch vụ về tư vấn cũng
tăng, góp phần làm tối đa hoá lợi ích của nhà nước và của doanh nghiệp.
Năm 2001 đánh dấu sự ra đời của công ty, trong năm mới hoạt động do
còn mới tiếp xúc với thi trường, nên khách hàng chưa nhiều ảnh hưỡng đến
doanh thu và đời sống công nhân viên tại công ty. Tuy nhiên, gần đây công ty
đã hoạt động hiệu quả và mang lại lợi ích không nhỏ cho công nhân viên ở
công ty. Từ năm 2003 mức lương của nhân viên liên tục tăng cụ thể ta có
bảng sau:
(đơn vị: VND)
chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Mức lương trung bình 2.800.000 4.200.000 4.500.000
Bảng 1.2: mức lương trung bình của công ty
(số liệu được lấy từ báo cáo tổng kết các năm)
Hàng năm, đội ngũ công nhân viên của công ty tăng khoảng 20 người,
công ty có đội ngũ công nhân viên lớn mạnh, có chuyên môn cao và thường
10
xuyên được đào tạo để tiếp thu những quy định, chính sách mới của Nhà nước
và các cơ quan có thẩm quyền. Hiện nay trong công ty dao động trong khoảng
100 người, năm 2005 có 10 người có chứng chỉ quốc gia, trong năm 2006 số
chứng chỉ được tăng lên là 12 người, cùng với nhân viên nhiều kinh nghiệm
trong lĩnh vực kiểm toán và các nhân viên được đào tạo chứng chỉ về định
giá. Ngoài ra, công ty còn luôn quan tâm đến đời sống của nhân viên tạo điều
kiện cho học tập thêm, nghiên cứu thêm về nghiệp vụ của bản thân không
ngừng nâng cao trình độ, để tư vấn hoặc chuyên gia cho khách hàng đúng
mục đích và năng lực, chuyên môn.
4 Đặc điểm quy trình kiểm toán chung của công ty.
Trong mỗi công ty sẽ có quy trình kiểm toán của riêng mình, một quy
trình khoa học và chất lượng sẽ tạo thành công bước đầu cho cuộc kiểm toán.
Do vậy, công ty TNHH Kiểm toán và Định giá Việt Nam đã có chương trình
kiểm toán chung cụ thể, khoa học, hiệu quả và phù hợp với công ty.
Quy trình kiểm toán công ty gồm các bước sau:
4.1 Lập kế hoạch kiểm toán.
Bước đầu một cuộc kiểm toán được đánh dấu của việc ký kết hợp đồng
kiểm toán, bên khách hàng sẽ gửi Thư mời kiểm toán và được chấp thuận của
công ty kiểm toán. Sau đó, tiến hành ký kết cung cấp dịch vụ cho khách hàng
và để ký một hợp đồng với khách hàng công ty phải căn cứ vào khả năng của
mình và nhu cầu của khách hàng, đồng thời công ty phải xem xét uy tín, danh
tiếng của công ty thực hiện hợp đồng đó. Trước khi ký kết hợp đồng kiểm
toán với khách hàng, công ty kiểm toán sẽ xem xét mục đích của cuộc kiểm
toán của khách hàng để có định hướng sơ bộ ban đầu cho hợp lý. Nếu công ty
thấy có thể chấp nhận được hợp đồng, công ty tiến hành lập kế hoạch kiểm
toán.
11
Kế hoạch kiểm toán đối với mỗi cuộc kiểm toán cụ thể được các chủ
nhiệm kiểm toán lập khi đã tiến hành khảo sát sơ bộ về khách hàng, kế hoạch
này được lập căn cứ vào chương trình kiểm toán chung của công ty.
Bước đánh giá rủi ro kiểm toán được các chủ nhiệm kiểm toán đánh giá chủ
yếu thông qua kinh nghiệm của họ và căn cứ vào cuộc kiểm toán đối với các
công ty hoạt động cùng lĩnh vực với khách hàng mà công ty đã kiểm toán
trước đó. Sau đó, chủ nhiệm kiểm toán xem xét đến tính hoạt động liê tục của
công ty khách hàng dể đưa ra ý kiến cho phù hợp, làm giảm rủi ro kiểm toán
cho công ty. Cũng trong giai đoạn này, các chủ nhiệm kiểm toán phân công
các kiểm toán viên thực hiện các công việc phù hợp với chuyên môn của từng
người.
Từng khoản mục sẽ được công ty xây dựng kế hoạch kiểm toán chi tiết.
Khi bắt đầu kiểm toán một khoản mục công ty đưa ra một số lưu ý đối với
kiểm toán viên được phân công thực hiện khoản mục đó, đồng thời xem xét
các mục tiêu kiểm toán đối với khoản mục này, các công việc mà kiểm toán
viên cần thực hiện đối với khoản mục cần kiểm toán:
+ Một là: Kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng
đối với các khoản mục đang kiểm toán đối với từng khoản mục cụ thể. Do
khách hàng là da dạng, nên kiểm toán viên phải vận dụng linh hoạt chương
trình kiểm toán đã xây dựng để đạt được hiệu quả cao nhất cho cuộc kiểm
toán. Trong bước đánh giá này công ty thường xem xét việc thực hiện các
chính sách, các quy chế quản lý đối với các khoản mục, xem xét việc ghi chép
kế toán có tuân thủ chế độ kế toán và các quy định có liên quan đang có hiệu
lực hay không. Ngoài ra kiểm toán viên có thể xem xét các dấu hiệu của sự
phê duyệt của các nhà quản lý công ty khách hàng.
12
+ Hai là: Phân tích soát xét.
So sánh số dư các khoản mục trong năm tài chính đang đựơc kiểm toán
với tổng số dồn tích phát sinh trong kỳ, hoắc với số dư cùng kỳ năm trước.
Kiểm toán viên có thể so sánh thêm các chỉ tiêu các khoản mục với
tổng số các khoản mục, hoặc tính toán phân tích các tỷ suất trong một số
khoản mục đặc biệt như tài sản, doanh thu, phải thu, phải trả…, phân tích xem
xét tính phù hợp các khoản mục, và so với tình hình chung qua các năm sự
biến động bất thường của khoản mục nghi vấn.
+ Ba là: Kiểm tra chi tiết.
Trong bước công việc này kiểm toán viên tiến hành kiểm tra chi tiết dối
với các khoản mục cụ thể để tìm và soát xét sai phạm. Đây là công việc chủ
yếu của một cuộc kiểm toán và chiếm tỷ trọng lớn trong thời gian để thực
hiện một cuộc kiểm toán cụ thể:
Kiểm toán viên tiến hành đối chiếu các số liệu trên các sổ sách kế toán
của khách hàng với nhau để kiểm tra. Xem xét. Nếu số lượng quá lớn, kiểm
toán viên có thể thực hiện chọ mẫu để kiểm tra tính chính xác, đầy đủ và hợp
lý của việc ghi chép các nghiệp vụ phát sinh. Đối với các khoản mục cụ thể,
công ty đều xây dựng thủ tục rà soát đối ứng để tìm và kiểm tra các đối ứng
bất thường. Khi thực hiện kiểm tra chi tiết các kiểm toán viên yeu cầu khách
hàng cung cấp đầy đủ các giấy tờ càn thiết cho công việc của mình và mọi
phát hiện của kiểm toán viên đều phải được ghi chép đầy đủ, đây sẽ là cơ sở
để đưa ra ý kiến kiểm toán. Trong chương trình kiểm toán chung có hướng
dẫn chi tiết, cụ thể. Thông qua việc kiểm tra chi tiết này để kiểm toán viên
cũng có thẻ đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng.
Các thủ tục kiểm toán bổ sung cũng được công ty xây dựng cho từng
khoản mục, để kiểm toán viên khi thấy cần thiết sẽ áp dụng kinh hoạt thr tục
13
này, chánh việc kiểm toán viên tự ý đưa ra những thủ tục bổ sung không cần
thiết.
4.2 Thực hiện kiểm toán.
Công ty tiến hành thực hiện cuộc kiểm toán trên cơ sở kế hoạch kiểm
toán đã được xây dựng trước. Các kiểm toán viên phải thực hiện đầy đủ các
bước công việc trong kế hoạch kiểm toán đã lập. Khi thực hiện các kiểm toán
viên không được tự ý thay đổi kế hoạch đã xây dựng trừ một số trưòng hợp
đặc biệt nhưng phải có sự phê chuẩn của chủ nhiệm kiểm toán, sau khi đã
thoả thuận với khách hàng. Đối với các sự kiện phát sinh trong quá trình thực
hiện kiểm toán mà không có trong kế hoạch kiểm toánthì đều phải được báo
cáo cho chủ nhiệm kiểm toán để có hướng giả quyết phù hợp, và phải có căn
cứ ghi chép đầy đủ.
4.3 Kết thúc kiểm toán.
Qua các bước trên, kiểm toán viên căn cứ vào bằng chứng kiểm toán
thu được, Sau khi thực hiện các công việc, kiểm toán viên đưa ra kết luận của
mình cho từng khoản mục kiểm toán, các chủ nhiệm kiểm toán tập hợp các ý
kiến của kiểm toán viên trong từng phần hành và lập báo cáo kiểm toán. Các
kết luận mà kiểm toán viên đưa ra, phải dựa trên khía cạnh trọng yếu của các
khoản mục. Ngoài ra, công ty còn lập các thư quản lý cho khách hàng nhằm
hoàn thiện công tác kế toán và quản lý cho khách hàng, cung cấp đầy đủ
những yêu cầu của khách hàng.
5 Các loại hình dịch vụ và chiến lược phát triển của Công ty
5.1 Mục tiêu kinh doanh và các lĩnh vực kinh doanh của Công ty
∗ Mục tiêu hoạt động của công ty được xây dựng nhằm nâng cao chất
lượng dịch vụ tốt nhất, chiếm được sự hài lòng của khách hàng:
• Góp phần tạo lập một môi trường kinh doanh minh bạch và hiệu quả,
giúp cho các đơn vị kinh tế có được BCTC đúng đắn.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét