Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính tại XN In Tổng Hợp Cần Thơ
3. Tác dụng:
Báo cáo tài chính của doanh nghiệp đựoc nhiều nhóm ngời khác nhau quan tâm như
nhà quản lý, chủ sở hữu, người cho vay,… Mỗi nhóm người này phân tích có xu hướng
tập trung váo các khía cạnh khác nhau về bức tranh tài chính của doanh nghiệp.
- Đối với nhà quản lý: mối quan tâm của họ là điều hành quá trình sản xuất kinh
doanh sao cho có hiệu quả, tìm được lợi nhuận tối đa và khả năng trả nợ. Dựa trên cơ sở
phân tích, các nhà quản lý có thể định hướng họat động, lập kế hoạch, kiểm tra tình hình
thực hiện và điều chỉnh quá trình hoạt động sao cho có lợi nhất.
- Đối với chủ sở hữu: họ cũng quan tâm đến lợi nhuận và khả năng trả nợ, sự an
toàn của tiền vốn bỏ ra. Thông qua phân tích sẽ giúp họ đánh giá hiệu quả điều hành hoạt
động của nhà quản trị để quyết định sử dụng hay bãi miễn nhà quản trị cũng như quyết định
phân phối kết quả kinh doanh.
- Đối với chủ nợ: (ngân hàng, các nhà cho vay, nhà cung cấp) mối quan tâm của
họ hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Do đó, họ cần chú ý tình hình và khả năng
thanh toán của đơn vị cũng như quan tâm đến lượng vốn của chủ sở hữu, khả năng sinh lời
để đánh giá đơn vị có khả năng trả nợ được hay không trước khi quyết định cho vay hay
bán chịu sản phẩm cho đơn vị.
- Đối với nhà đầu tư trong tương lai: điều mà họ quan tâm đầu tiên đó là sự an
toàn của lượng vốn đầu tư, kế đó là mức độ sinh lãi, thời gian hoàn vốn. Vì vậy, họ cần
những thông tin về tài chính, tình hình hoạt động kết quả kinh doanh, tiềm năng, sự tăng
trưởng của doanh nghiệp. Do đó, họ thường phân tích qua các thời kỳ để có cơ sở quyết
định nên đầu tư vào đơn vị hay không, đầu tư dưới hình thức nào và đầu tư vào lĩnh vực
nào.
- Đối với cơ quan chức năng: như cơ quan thuế, thông qua thông tin trên báo cáo
tài chính xác định các khoản nghĩa vụ đối với nhà nước; cơ quan thống kê tổng hợp phân
tích hình thành số liệu thống kê, chỉ số thống kê,…
Báo cáo tài chính của đơn vị dược nhiều nhóm người khác nhau quan tâm và phân
tích trên nhiều khía cạnh khác nhau nhưng thường liên quan với nhau. Do vậy các nhóm
người này thường sử dụng các phương pháp và kỹ thuật cơ bản để phân tích báo cáo tài
chính có hiệu quả.
GVHD: Nguyễn Thị Kim Phượng SVTH: Dương Thị Minh Tuyền
5
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính tại XN In Tổng Hợp Cần Thơ
II. Phương pháp phân tích và nội dung phân tích:
1. Phương pháp phân tích:
Hiện nay có nhiều phương pháp đựoc các nhà phân tích sử dụng trong việc phân tích
báo cáo tài chính như phương pháp so sánh, phương pháp phân tích theo chiều dọc, chiều
ngang, phương pháp phân tích dãy số theo thời gian,…Có thể sử dụng một hay kết hợp một
số phương pháp. Tuy nhiên, để xác định việc sử dụng phương pháp nào cần phải xem xét
đến tính để vận dụng, tính hợp lý, tính nhất quán, tính so sánh và tính đơn giản của nó và
cần lưu ý rằng trước khi phân tích cần phải giải quyết vấn đề về điều kỉện có thể so sánh
được và tiêu chuẩn so sánh.
1.1 Thiết lập Báo cáo tài chính dạng so sánh:
Các báo cáo tài chính đưa ra các số liệu tài chính của hai hay nhiều kỳ được gọi là
các báo cáo so sánh. Các báo cáo này sẽ cung cấp cho các nhà phân tích những thông tin
quan trọng về sự biến động của các đối tượng, về xu hướng biến động và mối quan hệ của
các đối tượng trong hai hay nhiều năm.
● Điều kiện có thể so sánh được:
Để phép so sánh có ý nghĩa thì diều kiện tiên quyết là cácchỉ tiêu được sử dụng phải
đồng nhất cả về thời gian và không gian.
- Về thời gian: là các chỉ tiêu được tính trong cùng một khỏan thời gian hạch toán
và phải thống nhất về cả 3 mặt sau:
+ Cùng phản ảnh một nội dung kinh tế.
+ Cùng một phương pháp tính.
+ Cùng một đơn vị đo lường.
- Về mặt không gian: các chỉ tiêu phải được quy đổi về cùng qui mô và điều kiện
kinh doanh tương tự nhau.
● Tiêu chuẩn so sánh:
Tiêu chuẩn so sánh là tiêu chuẩn của một kỳ được chọn làm căn cứ để so sánh, được
gọi là gốc so sánh. Tuỳ theo mục đích của nghiên cứu mà lựa chon gốc so sánh thích hợp.
Cụ thể gốc so sánh có thể là:
+ Tài liệu kỳ trước nhằm đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu.
+ Các mục tiêu đã dự kiến nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với kỳ kế hoạch.
GVHD: Nguyễn Thị Kim Phượng SVTH: Dương Thị Minh Tuyền
6
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính tại XN In Tổng Hợp Cần Thơ
+ Các chỉ tiêu của kỳ được so sánh với kỳ gốc được gọi là chỉ tiêu kỳ thực hiện và là
kết quả của doanh nghiệp đạt được.
Các báo cáo tài chính so sánh được thực hiện theo chiều ngang, chiều dọc.
- Phân tích theo chiều ngang:
Phân tích theo chiều ngang là sự phân tích các chỉ tiêu trên cùng một dòng của báo
cáo so sánh. Thông qua sự phân tích này làm nổi bật các xu thế và tạo nên những mối quan
hệ giữa các mục xuất hiện trên cùng một dòng của báo cáo so sánh.
- Phân tích theo chiều dọc:
Phân tích theo ciều dọc là xác định quan hệ tỷ lệ của các khoản mục xất hiện trên
cùng một cột của báo cáo so sánh với một chỉ tiêu tổng thể tương ứng nào đó. Thông qua
sự so sánh này cho thấy được tỷ lệ, vai trò của các khoản mục trong chỉ tiêu tổng thể.
1.2 Phân tích tỷ lệ:
Quan hệ tỷ lệ biều hiện mối quan hệ thương số giữa một đại lượng này và một đại
lượng khác. Nếu các yếu tố cấu thành tỷ lệ thể hiện một quan hệ có nghĩa thì số tỷ lệ của nó
có một lợi ích nào đó trong sự đánh giá. Phân tích số tỷ lệ có thể cho thấy được các mối
quan hệ làm bộc lộ ra các điều kiện và các xu thế mà các xu thế này thường không thể được
ghi lại bắng sự kiểm tra các bộ phận cấu thành riêng rẽ của tỷ số. Các số tỷ lệ nói chung tự
nó không có ý nghĩa nhưng nó sẽ có ý nghĩa khi được so sánh với các ỷ lệ thực tế trước
đây, các tỷ lệ chuẩn mực đã được định ra trước đó, các số tỷ lệ bình quân của ngành.
1.3 Phân tích dãy số theo thời gian:
Phân tích dãy số theo thời gian là sự phân tích một chỉ tiêu hay một số các chỉ tiêu
có mối quan hệ với nhau qua các khoản thời gian khác nhau dựa trên cơ sở một kỳ cố định
nào đó. Thông qua sự phân tích này có thể thấy được mối quan hệ và xu hướng của các chỉ
tiêu kinh tế.
1.4 Phương pháp đồ thị:
Phương pháp đồ thị mang tính khái quát cao nhưng lại trừu tượng, dùng để phân tích
hay đánh giá tổng quát từng vấn đề kinh tế hay hiện tượng kinh tế. Do mang tính khái quát
nên muốn sử dụng phải được biểu diễn dưới dạng một hàm số hay một phương trình cụ thể.
Nó còn được sử dụng để phân tích điểm hòa vốn, cung cầu, phân tích chi phí sản xuất và
qui mô sản xuất.
GVHD: Nguyễn Thị Kim Phượng SVTH: Dương Thị Minh Tuyền
7
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính tại XN In Tổng Hợp Cần Thơ
1.5 Phương pháp cân đối:
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hình thành nhiều mối quan
hệ cân đối. Cân đối là sự cân bằng giữa hai mặt của các yếu tố với quá trình kinh doanh.
Phương pháp cân đối được sử dụng nhiều trong công tác lập kế hoạch và ngay cả
trong công tác hạch toán để nghiên cứu các mối quan hệ cân đối về lượng của yếu tố với
lượng của các mặt yếu tố và quá trình kinh doanh. Trên cơ sở đó có thể xác định ảnh hưởng
của các nhân tố.
1.6 Phương pháp phân tích chi tiết:
- Chi tiết theo bộ phận cấu thành chỉ tiêu: giúp ta đánh giá chính xác các yếu tố cấu
thành của các chỉ tiêu phân tích.
- Chi tiết theo thời gian: các kết quả kinh doanh bao giờ cũng là một quá trình trong
từng khoảng thời gian nhất định. Mỗi khoảng thời gian khác nhau có những nguyên nhân
tác động không giống nhau. Việc phân tích này giúp ta đánh giá chính xác và đúng đắn kết
quả kinh doanh, từ đó có các giải pháp hiệu lực trong từng khoảng thời gian nhất định.
- Chi tiết theo địa điểm và phạm vi kinh doanh: việc phân tích này giúp ta đánh giá
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng bộ phận, phạm vi và địa điểm khác nhau
nhằm khai thác các mặt mạnh và khắc phục những mặt yếu kém của các bộ phận.
Việc nắm vững các phương pháp phân tích kinh tế giúp chúng ta có thể đánh giá
một cách khách quan các kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó
nhà quản lý có những giải pháp kịp thời trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
2. Nội dung phân tích:
Phân tích tình hình tài chình bao gồm các nội dung sau:
- Đánh giá thường xuyên và khái quát tình hình tài chính.
- Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán.
- Phân tích tình hình luân chuyển vốn và tình hình vật tư.
- Phân tích khả năng sinh lời.
- Dự đoán nhu cầu tài chính.
III. Đánh giá khái quát tình hình tài chính:
GVHD: Nguyễn Thị Kim Phượng SVTH: Dương Thị Minh Tuyền
8
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính tại XN In Tổng Hợp Cần Thơ
Việc đánh giá khái quát tình hình tài chính thường được thực hiện thông qua sự so
sánh các số liệu, chỉ tiêu tổng thể trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh.
Đầu tiên so sánh tổng tài sản cuối kỳ và đầu năm. Sự so sánh này có thể cho thấy sự thay
đổi về quy mô hoạt động cũng như khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Tiếp theo là
sự so sánh về doanh thu, chi phí, lợi nhuận các hoạt động trên báo cáo kết quả kinh doanh.
Sự so sánh này có thể cho thấy quy mô của các hoạt động đồng thời có thể đưa ra những
nhận xét ban đầu về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tài sản, nguồn vốn,
doanh thu, chi phí, lợi nhuận tăng giảm do rất nhiều nguyên nhân khác nhau; do vậy cần
thiết phải đi sâu vào để xem xét, phân tích mối quan hệ và sự biến động của các khoản mục
trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh.
Tình hình tài chính của đơn vị thể hiện rõ nét thông qua khả năng thanh toán, đó là
khả năng mà doanh nghiệp trả được các khoản nợ phải trả khi nó đến thời hạn thanh toán.
Nếu doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao cho thấy tình hình tài chính khả quan và
ngược lại khả năng thanh toán thấp thể hiện tình hình tài chính đang gặp khó khăn. Do vậy
cần phải xem xét các tỷ lệ thanh toán như: tỷ lệ thanh toán hiện hành, tỷ lệ thanh toán
nhanh, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt, tỷ lệ tự tài trợ, cũng như xem xét nguồn vốn lưu
động thuần để đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp.
1 Phân tích mối quan hệ và sự biến động của các khoản mục trong Bảng Cân Đối
Kế Toán:
1.1 Khái niệm Bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán là nguồn thông tin tài chính hết sức quan trọng trong công tác
quản lý của bản thân doanh nghiệp cũng như cho nhiều đối tượng khác ở bên ngoài, trong
đó có các cơ quan chức năng của Nhà nước. Đây là bảng báo cáo trình bày bức tranh tài
chính đơn vị tại một thời điểm nhất định, ngày 31/12. Tại thời điểm này, các hoạt động của
công ty bị coi như tạm thời dừng lại. Bản cân đối kế toán của công ty điển hình không chỉ
bao gồm hầu hết năm đã qua mà còn bao gồm năm trước đó nữa. Điều này cho phép so
sánh phương thức thu chi của công ty trong những năm đã qua.
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính có các đặc điểm sau:
- Phản ánh một cách tổng quát toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo một hệ thống
các chỉ tiêu đã được quy định thống nhất.
GVHD: Nguyễn Thị Kim Phượng SVTH: Dương Thị Minh Tuyền
9
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính tại XN In Tổng Hợp Cần Thơ
- Phản ánh tình hình tài sản theo 2 cách phân loại: kết cấu của tài sản và nguồn
hình thành tài sản.
- Phản ánh tài sản dưới hình thức giá trị (dùng thước đo bằng tiền).
- Phản ánh tình hình tài tại một thời điểm được quy định (cuối tháng, cuối quý,
cuối năm).
1.2 Kết cấu:
Bảng cân đối kế toán có kết cấu tổng thể như sau:
_ Nếu chia thành 2 bên thì bên trái phản ánh kết cấu của tài sản, gọi là bên tài sản;
bên phải phản ánh nguồn hình thành tài sản, gọi là bên nguồn vốn.
_ Nếu chia thành 2 phần thì phần trên phản ánh tài sản, phần dưới phản ánh nguồn
vốn.
Kết cấu từng bên như sau:
Bên tài sản được chia thành 2 loại:
Loại A: Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn.
Loại B: Tài sản cố định và đầu tư dài hạn.
Bên nguồn vốn được chia thành 2 loại:
Loại A: Nợ phải trả.
Loại B: Nguồn vốn chủ sở hữu.
Mối quan hệ giữa hai bên và các loại được thể hiện qua sơ đồ tổng quát:
Tài sản Nguồn vốn
Loại A Loại A
Loại B Loại B
Tính chất cơ bản của Bảng cân đối kế toán là tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn,
biểu hiện:
Tổng cộng tài sản = Tổng cộng nguồn vốn
Hoặc (A+B) tài sản = (A+B) nguồn vốn
1.3 Phân tích mối quan hệ:
Để thấy được một cách đầy đủ thực trạng tài chính của đơn vị, những người phân
tích báo cáo tài chính cần phải đi sâu vào xem xét sự phân bổ về tỷ trọng của tài sản, nguồn
vốn, cũng như sự biến động của từng khoản mục trong bảng cân đối kế toán để đánh giá sự
GVHD: Nguyễn Thị Kim Phượng SVTH: Dương Thị Minh Tuyền
10
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính tại XN In Tổng Hợp Cần Thơ
phân bổ tài sản, nguồn vốn có hợp lý hay không và xu hướng biến động của nó như thế
nào. Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà sự phân bổ tỷ trọng của từng loại tài sản,
nguồn vốn trong tổng số tài sản cao hay thấp. Nếu là doanh nghiệp sản xuất thì tỷ trọng tài
sản cố định trong tổng số tài sản là cao, nhưng nếu là doanh nghiệp thương mại thì tỷ trọng
tài sản lưu động trong tổng tài sản là cao. Do đó tiêu chuẩn được đưa ra là so sánh với mức
độ bình quân chung của ngành.
Đối với tài sản cố định, cần phải tính toán và so sánh các tỷ suất sau:
* Tỷ suất đầu tư tài sản cố định:
Tỷ suất này phản ảnh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị tài sản cố
định hiện tại của doanh nghiệp, cho thấy tỷ trọng tài sản cố định đơn vị đang quản lý sử
dụng so với toàn bộ tài sản. Tỷ suất này tăng cho thấy năng lực sản xuất và xu hướng phát
triển lâu dài của doanh nghiệp.
=
Tỷ suất đầu tư tài sản cố định tùy thuộc vào từng ngành kinh doanh, thông thường tỷ
suất này được coi là hợp lý đối với một số ngành như sau:
- Ngành công nghiệp khai thác: 0,9
- Ngành luyện kim: 0,7
- Ngành công nghiệp thực phẩm: 0,1
- Ngành ngân hàng: 0,01
* Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định:
Tỷ suất này cho thấy tỷ lệ về vốn chủ sở hữu dùng để trang bị cho tài sản cố định.
Doanh nghiệp có khả năng về tài chính vững vàng và lành mạnh thì tỷ suất này thường lớn
hơn 1. Sẽ mạo hiểm khi doanh nghiệp phải đi vay ngắn hạn để mua sắm tài sản cố định, vì
tài sản cố định thể hiện năng lực sản xuất kinh doanh lâu dài nên không thể thu hồi nhanh
chóng được.
=
GVHD: Nguyễn Thị Kim Phượng SVTH: Dương Thị Minh Tuyền
11
Tỷ suất đầu tư tài sản cố định
Giá trị hiện có TSCĐ
Tổng tài sản
Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định
Vốn chủ sở hữu
Giá trị TSCĐ
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính tại XN In Tổng Hợp Cần Thơ
2. Phân tích mối quan hệ và sự biến động của các khoản mục trong Bảng Báo cáo
kết quả kinh doanh:
2.1 Khái niệm:
Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ảnh tình hình và
kết quả kinh doanh của đơn vị qua một kỳ kế toán, nó phản ảnh toàn bộ phần giá trị về sản
phẩm, lao vụ, dịch vụ đơn vị đã thực hiện được trong kỳ và phần chi phí tương xứng tạo ra
để tạo nên kết quả đó. Kết quả kinh doanh của đơn vị là chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả của toàn
bộ quá trình hoạt động kinh doanh chịu sự tác động của nhiều nhân tố, nên nó được quan
tâm rất nhiều của các nhà phân tích. Khi phân tích, trước tiên cần so sánh một cách tổng
quát kết quả kinh doanh giữa các kỳ, sau đó đi vào phân tích các nội dung cấu thành nên
kết quả kinh doanh để đánh giá xu hướng biến động của nó như thế nào.
2.2 Kết cấu:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 3 phần:
- Phần I – Lãi, lỗ:
Phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm
hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác. Tất cả các chỉ tiêu trong phần này đều trình
bày: Tổng số phát sinh trong kỳ báo cáo; Số liệu của kỳ trước (để so sánh). Số lũy kế từ
đầu năm đến cuối kỳ báo cáo.
- Phần II – Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước:
Phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về: Thuế, phí, lệ phí và các
khoản phải nộp khác. Tất cả các chỉ tiêu trong phần này đều được trình bày: Số còn phải
nộp đầu kỳ; Số phải nộp phát sinh trong kỳ báo cáo; Số đã nộp trong kỳ báo cáo; Số phải
nộp lũy kế từ đầu năm và số đã nộp lũy kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo; Số còn phải
nộp đến cuối kỳ báo cáo.
- Phần III – Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được
giảm, thuế GTGT, hàng bán nội địa:
Phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ, đã khấu trừ, còn được khấu trừ; Thuế
GTGT được hoàn lại, đã hoàn lại, còn được hoàn lại cuối kỳ; Thuế GTGT được giảm, đã
giảm, còn được giảm cuối kỳ; Thuế GTGT hàng bán nội địa còn phải nộp đầu kỳ, thuế
GVHD: Nguyễn Thị Kim Phượng SVTH: Dương Thị Minh Tuyền
12
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính tại XN In Tổng Hợp Cần Thơ
GTGT đầu ra phát sinh, thuế GTGT hàng bán nội địa đã nộp vào NSNN và còn phải nộp
cuối kỳ.
3. Phân tích mối quan hệ và sự biến động của các khoản mục trong Bảng Lưu
chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài cính tổng hợp phản ảnh sự hình thành
và sử dụng tiền tệ phát sinh trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp. Báo cáo này phản ảnh
lưu chuyển tiền tệ, đó là chênh lệch các dòng tiền thu vào và dòng tiền chi ra của từng hoạt
động sản xuất kinh doanh, đầu tư và tài chính. Do thể hiện các quá trình lưu chuyển về tiền
liên quan qua các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ, nên báo cáo này có thể cung cấp
những thông tin được rõ ràng, cụ thể thì việc báo cáo các dòng tiền cần phải được cụ thể
cho từng hoạt động trong doanh nghiệp. Mặc khác trên cơ sở phân loại theo các hoạt động
sẽ giúp cho việc sánh, đánh giá các chỉ tiêu giữa các kỳ. Thường thì nội dung các báo cáo
lưu chuyển tiền gồm 3 phần như sau:
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh.
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư.
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính.
* Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh: phản ảnh toàn bộ dòng tiền
thu vào và chi ra liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, như thu tiền bán
hàng, thu từ các khoản nợ phải thu, chi trả nợ cho nhà cung cấp, chi trả lương công nhân
viên,…Hoạt động kinh doanh là hoạt động chủ yếu nhằm mang lại khả năng sinh lời cơ bản
của doanh nghiệp. Bởi vậy nhìn chung các sự kiện và giao dịch của hoạt động này sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến việc xác định lãi lỗ ròng trong doanh nghiệp. Giá trị các luồng tiền phát
sinh từ hoạt động kinh doanh sẽ là chỉ số cơ bản để đánh giá phạm vi hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp tạo ra lượng tiền đủ để trả nợ và duy trì khả năng hoạt động của doanh
nghiệp, tiến hành về những đầu tư mới mà không cần nguồn đầu tư tài chính bên ngoài.
* Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: phản ảnh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi
ra liên quan đến hoạt động đầu tư như thu do nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, thu hồi
các khoản đầu tư,… và chi ra do mua tài sản cố định, xây dựng cơ bản, chi đầu tư vào đơn
vị khác,…Việc trình bày tách biệt dòng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là cực kỳ quan
GVHD: Nguyễn Thị Kim Phượng SVTH: Dương Thị Minh Tuyền
13
Luận văn tốt nghiệp Phân tích tình hình tài chính tại XN In Tổng Hợp Cần Thơ
trọng bởi vì các luồng tiền này thể hiện phạm vi mà các chi phí đã được thực hiện cho các
nguồn dự định sẽ tạo ra nguồn lợi nhuận và các luồng tiền trong tương lai.
* Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: phản ảnh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi
ra liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp như thu từ các chủ sở hữu
góp vốn, thu do đi vay, thu lãi tiền gửi,…và chi trả nợ vay, chi hoàn vốn, chi trả lãi cho các
nhà đầu tư,…Việc trình bày tách rời luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài trợ cũng có ý
nghĩa và nội dung rất quan trọng bởi vì chúng rất hữu dụng trong việc dự toán các khoản
tiền từ những người cung cấp vốn cho doanh nghiệp trong tương lai.
Thông qua các dòng tiền thu vào và chi ra liên quan đến từng hoạt động chúng ta có
sự nhìn nhận thấu đáo hơn về hoạt động của doanh nghiệp, về khả năng tạo ra tiền, khả
năng thanh toán cũng như dự đoán sự phát sinh của các dòng tiền ở các kỳ tiếp theo.
Trong các hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính, nếu xét trong khoản thời gian
dài thì hoạt động kinh doanh phải là hoạt động chủ yếu tạo ra dòng tiền cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, có thể tùy thuộc vào việc thực hiện một chiến lược nào đó trong một thời kỳ
nhất định, dòng tiền từ hoạt động đầu tư hoặc tài chính có thể tăng lên. Dòng tiền thu vào
của từng hoạt động là cơ sở cho việc chi tiêu; vì thế khi phân tích báo cáo lưu chuyển tiền
tệ người ta thường xem xét tỷ trọng các dòng tiền thu vào của từng hoạt động và lưu
chuyển tiền tệ thuần từ hoạt động kinh doanh dùng để trang trải cho các hoạt động khác.
Các chỉ tiêu phân tích sau đây thường được sử dụng:
* Tỷ lệ dòng tiền thu vào từ hoạt động kinh doanh so với tổng dòng tiền thu
vào:
=
Hoạt động kinh doanh la hoạt động chủ yếu nên dòng tiền thu vào từ hoạt động này
chiếm tỷ trọng lớn, dòng tiền thu vào từ hoạt động này là nguồn chủ yếu để trang trải cho
hoạt động đầu tư cũng như hoạt động tài chính. Do vậy mà lưu chuyển tiền tệ thuần từ hoạt
động kinh doanh phải tạo ra dòng lưu chuyển tiền tệ dương.
* Tỷ lệ dòng tiền thu vào từ hoạt động đầu tư so với tổng dòng tiền thu vào:
=
GVHD: Nguyễn Thị Kim Phượng SVTH: Dương Thị Minh Tuyền
14
Tỷ lệ dòng tiền thu vào từ
hoạt động đầu tư
Tỷ lệ dòng tiền vào từ
hoạt động kinh doanh
Dòng tiền thu vào từ hoạt động đầu tư
Tổng dòng tiền vào từ các hoạt động
Dòng tiền thu vào từ hoạt động kinh doanh
Tổng dòng tiền thu vào từ các hoạt động
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét