Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Chính sách KT của Lênin

Đó chính là mô hình kinh tế - xã hội theo quan niệm chuyển trực tiếp lên
chủ nghĩa xã hội, không cần qua các giai đoạn trung gian, không cần qua hình
thức quá độ.
Chính sách cộng sản thời chiến đóng vai trò quan trọng trong thắng lợi của
Nhà nớc Xô Viết trong cuộc chiến tranh không khoan nhợng chống CNTB.
Nhờ nó mà quân sự đủ sức để chiến thắng kẻ thù, bảo vệ đợc Nhà nớc Xô
Viết. Xác định tính xác thực của chính sách này bằng logic đấu tranh vì một
chế độ mới, sau khi thay đổi đờng lối, Lênin đã viết: chúng ta không thể
không hành động khác đợc. Bất cứ một hành động nào khác, về phía chúng ta
đều có nghĩa là hoàn toàn đầu hàng . Ngời cũng nhấn mạnh rằng chế độ
công sản thời chiến lại là thành tích của chúng ta.
* Tuy nhiên khi hoà bình lập lại, chính sách cộng sản thời chiến không còn
thích hợp, nó trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển sản xuất. Đặc biệt cùng
với hậu quả nặng nề của 7 năm chiến tranh đế quốc và nội chiến đã làm cho
tình hình kinh tế xã hội trở nên nóng bỏng:
- Về công nghiệp: Ước tính 1/4 tài sản quốc gia mất đi, trong đó nền công
nghiệp bị tổn thất lớn nhất. Tổng sản lợng công nghiệp năm 1920 so với năm
1917 giảm đi 4 lần, số ngời làm việc giảm gần 1/2. Do đó, tỷ trọng sản phẩm
công nghiệp trong nền kinh tế năm 1920 là 25%. Hầu nh tất cả các ngành đều
sa sút. Nguyên vật liệu dự trữ đã dùng hết. So với năm 1913, sản xuất đại công
nghiệp giảm xuống tới 12,8%, còn công nghiệp giảm xuống 44,1%. Do đó t-
ơng quan đã thay đổi nghiêng về tiểu công nghiệp(từ 24,2% đến 52,3%) .
- Về nông nghiệp: Diện tích gieo trồng sản lợng ngũ cốc, sản lợng chăn nuôi
đều giảm, bình quân ngũ cốc đầu ngời là 246 kg còn trớc chiến tranh là 405
kg.
- Về giao thông vận tải: Bị tàn phá nghiêm trọng, 61% số đầu máy và 28% số
toa xe bị phá, cùng với 4000 chiến cầu và các ga xe, kho tàng. So với trớc
chiến tranh, khối lợng vận chuyển năm 1920 chỉ còn 20% (không tính đến
khối lợng vận chuyển của quốc phòng và nhu cầu của bản thân đờng xe lửa là
12%).


5
- Về tàI chính tín dụng: Lâm vào tình trạng rối loạn. Năm 1918 bội chi ngân
sách 31 tỷ rúp, năm 1921 con số bội chi nên tới 21,937 tỷ rúp. Mức dự trữ
vàng của ngân hàng thế giới giảm sút nghiêm trọng. Khối lợng tiền tệ tăng
nhanh trong khi khối lợng hàng hoá giảm đã đa đến sự tăng vọt của giá cả.
Mức giá trung bình toàn quốc năm 1923 tăng 21 triệu lần so với năm 1913.
Đồng thời xu hớng hiện vật hoá trong nền kinh tế tăng dần nên.
Do sản xuất lu thông sa sút nên đời sống nhân dân lao động cang thêm khó
khăn so với hồi chiến tranh. Tiền lơng thực tế của công nhân công nghiệp trớc
chiến tranh là 22 tỷ rúp đã giảm xuống còn 8,3 tỷ rúp năm 1920. Do thiếu ăn
thờng xuyên, thiếu thuốc men chữa bệnh nên tỷ lệ công nhân mắc bệnh và tử
vong tăng lên. Trong lúc đó, vì thiếu đIều kiện sản xuất nên nhiều nhà máy
phải đóng cửa, số ngời không có việc làm tăng lên, do đó tình trạng biến chất
giai cấp của giai cấp công nhân tiếp tục diễn ra.
Trong thời kì nội chiến, chính sách công sản thời chiến gây thiệt hại cho lợi
ích nông dân, tuy nhiên sự thiếu thốn, khó khăn trong đời sống của nông dân
và công nhân trong thời kì ấy không gây ra sự mệt mỏi về tinh thần, vì quần
chúng lao động sẵn sàng lao động quên mình để góp phần vào việc tiêu diệt
bọn phản cách mạng, thiết lập và dữ vững chính quyền nhân dân. Nhng sau
chiến tranh, khi những hi vọng trông chờ vào việc cảI thiện đời sống vật chất
và tinh thần không đợc đáp ứng thì lòng tin giảm dần và sự bất mãn bắt đầu
tăng lên. Đó là đIều kiện để bon phản cách mạng lợi dụng lừa rối quần chúng
tập hợp lực lợng hòng tấn công vào chính quyền Xô Viết non trẻ.
* Cuộc khủng hoảng xuất hiện ngay sau khi ngừng tiếng súng. Nguy cơ đó lại
tiếp tục tăng lên, đòi hỏi những ngời công sản phảI xem xét, nhận thức sâu sắc
hơn, đầy đủ hơn về lý luận và thực tiễn thời kì quá độ từ CNTB lên CNXH.
Thứ nhất, mâu thuẫn khách quan trong sự ra đời nớc Nga. Khi nói về mô hình
cộng sản thời chiến, Lênin cũng chỉ ra sự lác hậu, nghèo đói của nớc Nga
lúc bấy giờ và sự đổ lát đã thúc đẩy phải tìm kiếm con đờng khắc phục những
khó khăn vô cùng to lớn về kinh tế qua việc thực hiện lao động ngang nhau.
Thêm vào đó, trong lý luận CNXH khoa học, Lênin cha thảo ra lý luân chính


6
trị và kinh tế - xã hội của thời kì quá độ và thời kì xây dựng CNXH. Cuối
cùng, tình trạng rối loạn trong đội ngũ kẻ thù giai cấp, sự rút lui không có trật
tự, dờng nh là sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ t sản khiến mọi ngời tin rằng
việc tổ chức và phân phối phù hợp với dự kiến về CNCS của Mác và Aghen,
không có kích thích kinh tế, đồng thời xoá bỏ quan hệ hàng hoá tiền tệ là hoàn
toàn hiện thực. Vì vậy việc mất giá đồng tiền xay ta lúc đó, cũng nh việc thay
buốn bán bằng phân phối sản phẩm tập trung, trong đó có phân phối bằng tem
phiếu và trng thu lơng thực, đợc coi là những quá trình tự nhiên, là bằng chứng
về sự phát triển rất đáng mong mỏi và hơn nữa là sự phát triển nhanh chóng đi
lên CNCS.
Còn về mặt chính trị của mô hình cộng sản thời chiến thì thực chất là việc
dẫn tới chỗ nhà nớc hoá toàn bộ. Nhng lại nảy sinh vấn đề kết hợp nh thế nào
việc đó với viến cảnh ro Mác vạch ra về sự tiêu vong của nhà nớc. Để trả lời
câu hỏi này, Lênin nói về tính chất rất tạm thời của nhà nớc, về sự tồn tại của
nhà nớc cho đến khi các giai cấp mất đI, vấn đề này hầu nh không còn xảy ra
nữa. Chiến tranh còn đang tiếp tục, việc nhà nớc hóa là tất yếu và tiết thực,
cũng nh sự độc quyền của nhà nớc về sản xuất và phân phối kèm theo nó là
những mặt tiêu cực của sự độc quyền mà Lênin đã cố gắng khắc phục sau này.
2. Sự phân tích của Lênin về những mâu thuẫn kinh tế và chính trị.
Phân tích nguyên nhân của cuộc khủng khoảng năm 1921 ở nớc Nga Lênin
cho rằng nguyên nhân trực tiếp là do đời sống kinh tế của ngời lao động xấu
đi, đặc biệt là họ đã phải đau đớn chấp nhận tình hình xấu đi đó sau khi họ đã
dự định cải thiện tình cảnh chung ở trong nớc và đã thấy đợc sự cải thiện đó.
Viêc chỉ rõ mối quan hệ lẫn nhau: sự cải thiện gay niềm hi vọng, sự xấu đi đột
ngột - sự bất mãn sâu sắc và khủng hoảng là những quan sát hết sức tinh tế
của Lênin. Lênin còn nhìn thấy ở nền kinh tế cả những nguyên nhân sâu xa
hơn của cuộc khủng hoảng. Đó là những biểu hiện về mặt chính trị của sự
thiếu tổ chức và không phù hợp về mặt kinh tế.
Thứ nhất: Mâu thuẫn khách quan trong sự ra đời của CNXH ở nớc Nga. Điều
kiện lịch sử cụ thể của nớc Nga trong đó CNXH hiện thc ra đời lại không nh


7
học thuyết Các Mác đã phân tích về mặt lý luận. Đặc điểm của nớc Nga là sự
lạc hậu tơng đối về kinh tế, là sự quyện chặt giữa t bản độc quyền hiện đại với
tàn tích phong kiến. Quan hệ tiền t bản chủ nghĩa chủ yếu tồn tại trong nông
thôn(dân số nông thôn chiếm 82,4% dân số, kinh tế nông nghiệp chiếm 51,4%
thu nhập quốc dân). Đặc điểm này đợc Lênin rất chú ý phân tích khi ngời vạch
ra chiến lợc tình thế giải quyết khủng hoảng và chiến lợc lâu dài xây dựng
CNXH. Đặt đúng vị trí của vấn đề nông dân và nông nghiệp trong chiến lợc và
sách lợc của Đảng có ý nghĩa quyết định đến bảo vệ những thành quả Cách
mạng và xây dựng CNXH.
Trớc đây, chính quyền Xô Viết đứng vững đợc trong nội chiến và sự can thiệp
của nớc ngoài là nhờ tinh thần hi sinh của nhân dân trớc hết là giai cấp công
nhân và giai cấp công nhâ. Nhiệt tình cách mạng là động lực duy nhất trong
chiến đấu và chiến thắng.
Sau chiến tranh, giai cấp công nhân vẫn là ngời chủ yếu nuôi sống đất nớc, đời
sống của họ lại đang thiếu thốn khó khăn. Nếu Đảng giữ đợc nhiệt tình cách
mạng và lòng tin của họ thì bảo vệ đợc cách mạng. Ngợc lại, nếu làm mất lòng
tin của họ thì sự nghiệp sẽ hết sức nguy hiểm. Giữ vững lòng tin lúc này có ý
nghĩa là phải tìm ra động lực của thời kì xây dựng. Xuất phát từ sự phân tích
đó, Lênin đã chỉ ra rằng: phải bắt đầu từ nông dân và nông nghiệp, phải cải
thiện đời sống ngời lao động trên cơ sở xây dựng quan hệ kinh tế bình thờng
giữa nông nghiệp với công nghiệp, củng cố liên minh công nông trên cơ sở
kinh tế nhằm lôi cuốn những ngời sản xuất nhỏ vào việc xây dựng đất nớc và
đi lên CNXH. Chỉ có một chính sách nh vậy mới tạo đợc tiền đề cho sự nghiệp
công nghiệp hoá XHCN.
T tởng đó của Lênin đóng vai trò quyết định trong việc đa ra lý luận Mac-xit
về thời kì quá độ vào thực tiễn cuộc sống và làm phong phú thêm lý luận đó.
Nhờ t tởng ấy mà Đảng đã sửa chữa đợc những sai lầm trong thời kì đó.
Thứ hai: những sai lầm chủ quan của những ngời công sản cũng là một thực tế
phải giải quyết đồng thời với việc giải quyết mâu thuẫn khách quan. Trong
những năm tháng áp dụng Chính sách cộng thời chiến đã hình thành quan


8
niệm về khả năng quá độ trực tiếp lên CNXH. Nhiều chủ trơng, biện pháp quá
đáng ra đời từ quan niệm này là một trong những nguyên nhân làm tăng nguy
cơ khủng hoảng. Mô hình kinh tế xã hội theo quan điểm trực tiếp lên XHCN.
Không qua các giai đoạn trung gian, không qua các hình thức quá độ. Mô
hình đó không phải dừng lại ở quan niệm mà đã thể hiện trong thực tế sau khi
chiến tranh kết thúc một cuộc thí nghiệm không lâu lắm cho chúng ta thấy rõ
rằng cách làm nh vậy là sai, là trái với những điều trớc kia chúng ta đã viết về
bớc quá độ từ CNTB lên CNXH . Lênin đã chỉ ra vậy.
Quan niệm này không phải chỉ là sản phẩm duy ý chí của ngời quản lý mà
trong đó còn phản ánh nguyện vọng của đông đảo quần chúng lao động muốn
nhanh chóng thoát khỏi cảnh nghèo khổ hôm quan. Rõ ràng đây là quan niệm
mang tính chất lãng mạn và ảo tởng nhng đã lặp đi lặp lại ở nhiều nớc kém
phát triển XHCN, hay đang ở chặng đầu thời kì quá độ lên CNXH. Vì vậy,
ngay từ năm 1921 khi phân tích quan niệm sai lầm về khả năng quá độ trực
tiếp lên XHCN, Lênin đã chú ý tới ý kiến của Aghen phân tích kinh nghiệm
những năm 1648 và 1789 cho rằng: hình nh có một quy luật đòi hỏi cách
mạng phải tiến xa hơn là nó có thể làm đợc.
Chính đặc điểm đó của phong trào quần chúng đòi hỏi Đảng lãng đạo có sự
phân tích cụ thể trong tình hình cụ thể khi vận dụng lý luận vào thực tiễn.
Điều này đã đợc thực tiễn chứng minh ở hai trờng hợp trớc và sau khi ban
hành chính sách kinh tế mới.
* Trong thời gian thực hiện những chủ trơng biện pháp quá đáng (trớc khi thực
hiện), do không đếm xỉa đến đặc điểm và điều kiện lịch sử cụ thể của công
cuộc xây dựng CNXH, do sự chi phối của quan niệm chuyển trực tiếp lên
CNXH nên tình trạng khủng hoảng ngày càng trầm trọng: sản xuất sa sút hơn,
nhất là nông nghiệp. Dân số ăn theo chế độ cung cấp của Nhà nớc tăng nhanh
trong khi mức lơng thực cung cấp ngày càng ít thấp hơn nhiều so với mức
sống cần thiết. Các chỉ tiêu thu mua trng thu cứ tăng lên, nhng kết quả cứ
giảm xuống, nhu cầu tiền mặt càng tăng, càng phải in và phát hành thêm thì
sức mua của đồng tiền càng giảm. Số lợng của giai cấp công nhân đã giảm


9
1/2, trong đó một bộ phận chuyển về nông thôn. Nông dân ngày càng không
bằng lòng với các chính sách của Đảng. Sai lầm trong lĩnh vực hoạt động kinh
tế gây ra hậu quả chính trị nặng nề: liên minh công nông đứng trớc nguy cơ
tan rã, chuyên chính vô sản không đợc củng cố, vai trò lãnh đạo của Đảng yếu
đi. Tình trạng an ninh chính trị và an toàn ngày càng xấu.
Ngợc lai, với tình trạng trên đây, tình hình kinh tế và chính trị đợc cải thiện
nhanh chóng sau khi ban hành NEP vào tháng 3/1921. ngay sau đó, vụ thuế l-
ơng thực đầu tiên đạt 96% (mặc dù tỉ xuất thu đã đợc hạ thấp và năm 1921 là
năm bị hạn hán và lạn đói hoành hành mạnh nhất). Thắng lợi đầu tiên ấy
chứng tỏ NEP là cong đờng đi đúng đắn. Còn sau đó, giữa năm 1922 đến năm
1925, nông nghiệp phát triển mạnh, trong đó sản xuất lơng thực từ 56,3 triệu
tấn tăng lên 74,7 triệu tấn. Nông thôn hoạt động sôi nổi. Nông nghiệp đợc
phục hồi và phát triển kéo theo sự khôi phục công nghiệp và thơng nghiệp.
Đời sống nhân dân lao động đợc ổn định trở lại sau một năm thi hành chính
sách kinh tế mới, Lênin nói Nông dân lấy làm hài lòng với tình trạng của họ
hiện nay. Chúng tôi có thể mạnh dạng khẳng định nh thế.
Sau bốn năm rỡi thi hành chính sách NEP, nớc Nga Xô Viếtkhông chỉ khắc
phục đợc hậu quả của chiến tranh và nạn đói mà sản xuất còn vợt mức chiến
tranh. Từ nớc Nga của chính sách kinh tế mới sẽ nảy ra nớc Nga XHCN .
Tính chất đúng đắn của NEP đã đợc lịch sử chứng minh. Ngày nay muốn vận
dụng NEP và có kết quả cần phải đi sâu vào nội dung cơ bản của NEP.
B. nội dung và các biện pháp chủ yếu của chính sách kinh tế mới (NEP).
Theo quan điểm của Lênin, khủng khoảng là một quá trình tích tụ và làm gay
gắt thêm những mâu thuẫn trên lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội. Sự
phân tích sâu sắc của Lênin và chiến lợc giải quyết một cách thắng lợi cuộc
khủng khoảng năm 1921 chính là ở chỗ vạch ra và làm sáng tỏ mối quan hệ
qua lại giữa các lĩnh vực quan trọng nhất: chính trị - xã hội - kinh tế. Vì thế,
tiếp cận nội dung của NEP trớc hết phải theo quan điểm hệ thống, cho phép
nhìn rõ đợc các mối quan hệ ảnh hởng lẫn nhau. Tách riêng từng nội dung,


10
từng vấn đề trong hệ thống các biện pháp đó thì không nhận thức đầy đủ, thậm
chí hiểu sai NEP.
Trong những nhân tố thúc đẩy cuộc khủng hoảng thì nhân tố đầu tiên là các
chính sách chủ trơng vi phạm lợi ích kinh tế của ngời lao động, trớc hết là
nông dân, trong điều kiện họ đã mệt mỏi trong chiến tranh, bị kiệt sức vì nạn
đói, thiếu công ăn việc làm và thiếu điều kiện bình thờng về trật tự và an toàn
xã hội (chủ yếu do nan cớp bóc).
Một nhân tố quan trọng khác thúc đẩy cuộc khủng hoảng, đợc Lênin chỉ ra là
tệ nạn quan liêu trong bộ máy nhà nớc, xuất hiện sự thoái hoá; hiện tợng một
bộ phận cán bộ, nhân viê, kể cả một số ngời lãnh đạo xa rời quần chúng, thiếu
tôn trọng lợi ích quần chúng càng phát triển thì càng tăng thêm sự mất lòng tin
và bất mãn trong quần chúng nhân dân.
Trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, Lênin đã gắn cuộc khủng hoảng
năm 1921 với tình hình nội bộ của đảng Bôn - sê - vích và đã xem xét: ý nghĩa
của cuộc khủng hoảng chính trị và cuộc khủng hoảng trong Đảng.
Ngoài ra một trong những nhân tố của cuộc khủng hoảng là vai trò của bọn
phản động quốc tế qua sự kiện nổi loạn ở Gôn-stát.
Xem xét toàn diện các nhân tố của cuộc khủng hoảng Lênin đã chỉ ra nguyên
nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng là nguyên nhân bên trong những sai lầm
về lãnh đạo quản lý, trớc hết và chủ yếu là lĩnh vực kinh tế. Vì vậy, những nội
dung chủ yếu của NEP thực chất không phải là một số các biện pháp tổng thể
các biện pháp, mà là một cơ chế kinh tế. Mục tiêu trớc mát và cấp bách mà cơ
chế trong NEP thực hiện là ổn định và cải thiện đời sống của những ngời lao
động ( kể cả biện pháp cấp bách xuất 10 triệu rúp vàng để nhập lơng thực và
hàng tiêu dùng) và các biện pháp nhằm bảo vệ và củng cố chính quyền Xô
Viết đợc coi là mục tiêu hàng đầu. Các nội dung của NEP là một hệ thống
gồm nhiều mắt xích liên hoàn nhau, có mối quan hệ bên trong nh một dây
chuyền, không thể thiếu khâu nào. Tất cả các khâu tạo thành một cơ chế kinh
tế cho phép nhà nớc tháo gỡ khó khăn, điều hành sự vận động kinh tế xã hội.
Sau đây là những nội dung chủ yếu của cơ chế kinh tế NEP.


11
1. Thuế lơng thực
Trong điều kiện nớc Nga lúc bấy giờ, giai cấp công nhân và nông nghiệp là
nguồn nuôi sống xã hội. Sản xuất và đời sống xã hội phụ thuộc vào nông
nghiệp. Khó khăn lớn nhất mà Nhà nớc vấp phải là thiếu lơng thực. Nạn đói
1921 càng tăng thêm khó khăn đó. Vì vậy, mục đích trực tiếp của thuế lơng
thực là một trong những biện pháp cấp tốc cơng quyết nhất, cấp thiết nhất để
cải thiện đời sống của ngời nông dân và nâng cao lực lợng sản xuất của họ
(1)
Thực hiện thuế lơng thực, xoá bỏ chế độ trng thu lơng thực thừa có nghĩa là
chuyển từ biện pháp hành chính thuần tuý sang biện phap kinh tế, thuế lơng
thực có vai trò của bớc quá độ đó.
Lúc ấy Lênin đã đặt ra câu hỏi: Tại sao nhà nớc vô sản trớc hết lại cải thiện
đời sống của nông dân chứ không phải là công nhân.
Và ngời là ngời trực tiếp trả lời câu hỏi đó: vì muốn cải thiên đời sống của
ngời công nhâ thì phải có bánh mỳ và nhiên liệu. Đứng về phơng diện toàn bộ
nền kinh tế quốc dân của chúng ta hiện nay, trở ngại lớn nhất là ở đó, thế mà
chúng ta chỉ có thể tăng thêm sản xuất và thu hoạch lúa mỳ, tăng thêm dự trữ
và vận tải nhiên liệu bằng cách cải thiện đời sống nông dân. Ngời nào không
hiểu điều đó, ngời nào có ý coi việc đa vấn đề nông dân lên hàng đầu nh thế là
một sự từ bỏ chuyên chính vô sản hoặc tơng tự nh vậy thì chẳng qua chỉ là
vì ngời đó không chịu suy nghĩ kĩ càng vấn đề đó và bị lời nói trống rỗng chi
phối . Ngời vô sản nào hoặc đại diện nào của giai cấp vô sản muốn cải thiện
đời sống của giai cấp công nhân bằng con đờng khác thì thực tế chỉ là những
kẻ trợ lực cho bọn bạch vệ và bọ t bản mà thôi. Vì đi theo con đờng khác có
nghĩa là đặt lợi ích phờng hội của giai cấp công nhân lên trên lợi ích của giai
cấp họ.
Nhng mặt khác để cải thiện đời sống của nông dân thì mức thuế lơng thực
phải thấp, nh vậy Nhà nớc phải làm thế nào để có đủ số lơng thực cần thiết?
Tác dụng kích thích của thuế lơng thực đối với nông dân sản xuất và có điều
kiện cải thiện đời sống của mình là ở mức thuế thấp. Mức thuế lơng thực đã đ-
ợc giảm xuống thấp hơn mức trng thu gần 1/2, thủ tục thuế đợc đơn giản hoá.


12
Từ tháng 5/1923 thực hiện thuế đồng nhất với hình thức hỗn hợp bằng tiền tệ
hoặc hiện vật tuỳ theo sự lựa chọn của nông dân, còn từ năm 1924, hình thức
tiền tệ của thuế là chủ yếu. Mức thuế có phân biệt đối với các bộ phận nông
dân: đối với bần nông thì thu thuế bằng 1,2% thu nhập, trung nông thu 3,5%
thu nhập còn đối với phú nông thì thu 5,6% thu nhập.
Do mức thuế thấp nên năm 1921, nhà nớc chỉ thu đợc 240 triệu pút lúa mỳ sao
với 423 triệu pút trng thu trớc đây. Nhng để bù lại, do nông dân hăng hái sản
xuất, mở rộng diện tích nên tổng sản lợng lơng thực của xã hội và các nông
sản khác tăng lên. Nhà nớc qua con đờng trao đổi có đợc khối lợng lơng thực
nhiều hơn. Ngoài ra, ro mức thuế ổn định ngời nông dân nào cũng biết trớc số
thuế phải nộp và cố gắng để sản xuất vợt quá mức đó. Nhà nớc càng thu thuế
dễ dàng, thuận lợi.
Thuế lơng thực là đòn xéo mạnh mẽ để khôi phục nền nông nghiệp sau chiến
tranh, biểu hiện yêu cầu của tính quy luận đầu tiên của quá trình khôi phục
kinh tế, bởi vì Thuế lơng thực sẽ giúp vào việc cải thiện đời sống nông dân.
Bây giờ nông dân sẽ bắt tay vào việc một cách yên tâm hăng hái hơn đó chính
là điều chủ yếu .
2. Khôi phục và phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp thông
qua trao đổi sản phẩm giữa nông nghiệp và công nghiệp.
Muốn cải thiện đời sống nông dân và công nhân thì không thể dựa vào nền
nông nghiệp gia trởng mang tính chất tự cấp tự túc mà chỉ có thể dựa vào một
nền nông nghiệp hàng hoá. Trong thời kì áp dụng chính sách cộng sản thời
chiến, xu hớng hiện vật hoá nền nông nghiệp đợc duy trì và tăng lên xu hớng
kinh tế hóa bị kìm hãm. ý nghĩa và tác dụng cần có của thuế lơng thực không
thể phát huy đợc trong nền nông nghiệp tự cung tự cấp, vì số nông sản tăng
lên một mức độ nào đó nếu không có trao đổi thì nó mất tác dụng kích thích.
Do đó, thuế lơng thực là một bớc quá độ từ chế độ cộng sản thời chiến đến
chế độ trao đổi xã hội chủ nghĩa bình thờng về sản phẩm.


13
Khác với chế độ giao nộp, trng thu dựa trên mệnh lệnh trong thời kì thực hiện
chính sách công sản thời chiến, cơ chế kinh tế hàng hoá cho phép đạt đợc
các mục tiêu sau:
a. Đáp ứng nhu cầu tiền mặt của sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Thông qua
trao đổi hàng hoá, thúc đẩy quá trình phân công lao động trong công nghiệp,
khuyến khích sản xuất nông nghiệp vừa đi vào chuyên canh vừa phát triển
kinh doanh tổng hợp, nhờ đó các lực lợng sản xuất trong nông nghiệp đợc
khôi phục và phát triển.
b. Đó là con đờng để nhà nớc giải quyết vấn đề lơng thực một cách vững chắc.
Sản xuất lơng thực ngày càng mang tính chất hàng hoá thì nông dân có lợi hơn
và tổng số lơng thực của xã hội cũng tăng lên.
c. Khôi phục và phát triển kinh tế hàng hoá trong nông nghiệp là sống động lại
các ngành kinh tế và toạn bộ sinh hoạt xã hội ở thành thịu và nông thôn.
Nh vậy chính sách thuế lơng thực của Lênin còn bao hàm t tởng chuyển sang
kinh doanh lơng thực, đợc coi nh một đòn bẩy quan trọng cho sự phát triển sản
xuất lơng thực và sản xuất nông nghiệp nói chung. Theo hớng đó, nhà nớc
đem lại sự giúp đỡ to lớn về tài chính và kĩ thuật cho nông dân.
Nhờ quán triệt đầy đủ quan điểm của Lênin trong chính sách thuế lơng thực
nên đến năm 1925 sản xuất nông nghiệp nớc Nga đã đạt mức trớc chiến tranh
(1913).
Vấn đề đặt ra là phải giải quyết hai nội dung sau:
Một là, lấy hàng công nghiệp ở đâu để trao đổi với nông dân.
Hai là, khôi phục và phát triển kinh tế hàng hoá bên trong nông nghiệp mới
thực hiện đợc NEP nhng sẽ kéo theo sự khôi phục và kính trích xu hớng t bản
chủ nghĩa. Mâu thuẫn đó phải giải quyết nh thế nào?
Trớc hết, Lênin khẳng định: Sự phát triển của trao đổi t nhân, của chủ nghĩa t
bản là một sự phát triển không thể tránh đợc. Việc ngăn cấm, chặn đứng sự
phát triển ấy là có hại cho cách mạng. Nhng không đợc coi nhẹ buông lỏng sự
kiểm tra, kiểm soát sự phát triển ấy của xu hớng t bản chủ nghĩa, nhất là đấu
tranh chống nạn đầu cơ, muốn vậy phải sử dụng hình thức kinh tế CNTB nhà


14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét