Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

GIẢI PHÁP GÓP PHẦNHỖ TRỢ DNNVV TIẾP CẬN VỚI NGUỒN TÍN DỤNG THÔNG QUACÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM.doc

Chương 4:Giải pháp góp phần hỗ trợ DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thông
qua công tác thẩm định tín dụng tại các NHTM
Các ngân hàng để đẩy mạnh cho vay trung và dài hạn có thể sử dụng hình thức cho vay
đồng tài trợ, hay phối hợp với các quỹ bảo lãnh để mở rộng cho vay đối với các DNVVN.
Hình thức cho vay này sẽ phần nào giải quyết khó khăn do hạn chế về tiềm lực tài chính,
đồng thời chia sẻ rủi ro giữa các ngân hàng tham gia đồng tài trợ.
Các ngân hàng cần nâng cao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm, đồng thời cần tiếp tục
nghiên cứu và triển khai mạnh việc phát triển và hoàn thiện các dịch vụ ngân hàng mới như
dịch vụ tư vấn, môi giới đầu tư chứng khoán, bảo quản vật có giá, cung cấp các dịch vụ sản
phẩm bảo hiểm, uỷ thác Cùng với đó là chú trọng tới hoạt động marketing, quảng bá sản
phẩm dịch vụ ngân hàng đến quảng đại công chúng cũng như tới cộng đồng các DN, đặc biệt
là DNNVV.
4.2.3 Giải pháp từ phía Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng nhà nước có thể tiến đến mở rộng tỷ lệ quy định về sử dụng vốn ngắn hạn
cho vay trung và dài hạn lớn hơn 30% qua đó giúp các ngân hàng có thêm nguốn vốn trung
và dài hạn cung cấp cho các DNNVV, đẩy mạnh việc chỉ đạo các ngân hàng tăng cường huy
động các nguồn vốn trong và ngoài nước bằng nhiều hình thức để đáp ứng nhu cầu vốn trung
và dài hạn ngày càng tăng của thành phần kinh tế này.
Ngân hàng nhà nước cần tạo quyền chủ động cho các NHTM, không phân biệt thành
phần kinh tế, tạo sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng trong lĩnh vực phát hành các công cụ
huy động vốn trung và dài hạn, hạn chế can thiệp hành chính đối với việc cho vay của ngân
hàng cho pháp các ngân hàng được tự chủ xem xét, quyết định và tự chịu trách nhiệm về việc
cấp tín dụng cho các DNNVV phù hợp quy định của pháp luật, nên có những văn bản gởi lên
cơ quan có thẩm quyền đảm bảo sao cho có thể tháo gỡ sự can thiệp hành chính của nhà nước
đối với việc cho vay của các ngân hàng.
Ngân hàng nhà nước cần phối hợp với Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước để có các biện
pháp khuyến khích các NHTM phát hành trái phiếu trên thị trường chứng khoán tập trung,
đồng thời, có các giải pháp phát triển thị trường trái phiếu để có thể huy động thêm nguồn
vốn trung và dài hạn để cho vay.
Ngân hàng nhà nước cần có các giải pháp hoàn thiện các công cụ gián tiếp trong điều
hành chính sách tiền tệ, hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở để có đủ năng lực điều tiết cung
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
73
Chương 4:Giải pháp góp phần hỗ trợ DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thông
qua công tác thẩm định tín dụng tại các NHTM
cầu về vốn, điều chỉnh lãi suất tạo thuận lợi cho hoạt động huy động vốn trung và dài hạn của
các ngân hàng thương mại.
Ngân hàng nhà nước cùng với hình thức cho vay truyền thống, phải ban hành cơ chế về
các hình thức cấp tín dụng khác như bảo lãnh, chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá, bao
thanh toán , một cách cụ thể, rõ ràng nhằm tạo hành lang pháp lý để các ngân hàng mở rộng
các kênh đầu tư phù hợp thông lệ quốc tế và không trái với pháp luật Việt Nam, phải hết sức
nhanh nhẹn, có biện pháp điều tiết kịp thời khi lãi suất huy động bị đẩy lên quá cao, tạo điều
kiện cho công tác huy động vốn nhất là vốn trung và dài hạn của hệ thống NHTM.
Ngân hàng nhà nước phải tạo điều kiện cho các Công ty cho thuê tài chính trực thuộc
ngân hàng đưa vào hình thức tín dụng mới là cho thuê tài chính - một kênh cung cấp nguồn
vốn trung và dài hạn cho các DN khi DN có đủ điều kiện vay vốn nhưng không phải bảo đảm
bằng tài sản tại các ngân hàng thương mại, một cách thuận lợi.
Ngân hàng nhà nước nên ban hành các quy chế mới của hệ thống đã thật sự tạo môi
trường kinh doanh bình đẳng giữa các DN thuộc mọi thành phần kinh tế. Trên nguyên tắc
cùng có lợi, hiệu quả, mọi mặc cảm về DNNVV cũng dần được được xua tan, thay vào đó là
một nếp văn hóa trong kinh doanh, nghiên cứu, xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới
các văn bản mới về cơ chế cho vay, cơ chế bảo đảm tiền vay, thanh toán quản lý ngoại hối ,
để tạo điều kiện cho các DNVVN tiếp cận vốn vay trung và dài hạn, sử dụng các dịch vụ
ngân hàng được nhiều hơn.
4.2.4 Giải pháp về phía nhà nước
Theo PGS-TS Đặng Văn Thanh, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sác quốc hội:
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam phấn đấu đến năm 2010 sẽ ra khỏi tình
trạng nước kém phát triển và năm 2020 cơ bản là một nước công nghiệp, chính trị, xã hội ổn
định, hội nhập sâu vào kinh tế khu vực và thế giới. Thành công của chiến lược này phần lớn
phụ thuộc vào sự phát triển của các tổ chức kinh tế, mà chủ yếu là các DN, nhất là DNNVV.
Do đó để hỗ trợ cho các DNNVV vay được vốn trung và dài hạn các Nhà nước cần phải có
những biện pháp sau :
Nhà nước phải có những chính sách tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, trợ giúp
DNNVV phát triển, đặc biệt, các chương trình hỗ trợ trực tiếp cho DN về tài chính, đào tạo
nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại, trợ giúp kỹ thuật công nghệ…Để giúp các DNNVV
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
74
Chương 4:Giải pháp góp phần hỗ trợ DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thông
qua công tác thẩm định tín dụng tại các NHTM
đứng vững và phát triển trong thời kỳ hội nhập, Nhà nước sẽ tăng cường trợ giúp pháp luật
cho DN và sẽ có những thông tin mang tính dự báo về thị trường vốn.
Nhà nước nên tạo mọi điều kiện để cho các DNNVV có thể tiếp cận qua nhiều kênh
như Quỹ Hỗ trợ phát triển DNNVV, các Công ty cho thuê tài chính, các NHTM, Quỹ đầu tư
phát triển địa phương, kênh tín dụng ưu đãi từ Quỹ Hỗ trợ phát triển một cách tốt nhất, đẩy
nhanh việc thành lập và đưa vào hoạt động Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV để bảo lãnh cho
các DNNVV khi không đủ tài sản thế chấp, cầm cố, vay vốn của các ngân hàng, tạo hành lang
pháp lý đầy đủ và thuận lợi cho DNNVV ở tầm vĩ mô như khuyến khích các NHTM cung cấp
tín dụng hoặc góp vốn vào các DNNVV, hỗ trợ mặt bằng sản xuất cho DN.
Nhà nước thành lập và phát triển các định chế tài chính thuộc sở hữu Nhà nước để thực
hiện chính sách bảo lãnh tín dụng cho DN. Hoạt động cơ bản của các định chế này là thực
hiện chính sách bảo lãnh những khoản tín dụng ngân hàng của các DNNVV nhằm khuyễn
khích các DN đầu tư dài hạn, đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập
vào thị trường quốc tế.
Nhà nước, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Chính phủ, đặc biệt của Bộ Tài chính -
Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tài chính quốc tế để tranh thủ các nguồn vốn tín dụng
Trung và dài hạn giúp các DNNVV nhanh chóng đổi mới trang thiết bị công nghệ tiên tiến,
giảm dần khoảng cách về trình độ công nghệ so với các DN Nhà nước, DN có vốn đầu tư
nước ngoài.
Nhà nước cần phải có hệ thống các giải pháp để ngày càng phát triển thị trường chứng
nhằm tạo thị trường giao dịch các cổ phiếu DNNVV có vốn điều lệ từ 5 tỷ đồng trở lên, theo
phương thức khớp lệnh tập trung qua đó sẽ giúp các DNNVV tiếp cận với nguồn vốn trung và
dài hạn, bên cạnh với việc đẩy mạnh tín dụng trung và dài hạn của các NHTM, nên khuyến
khích các DNNVV phát hành trái phiếu DN để vay vốn dài hạn, các NHTM phát hành trái
phiếu ngân hàng huy động vốn trung và dài hạn.
Nhà nước nên có những văn bản chỉ đạo các Bộ, ngành đẩy mạnh các hình thức trợ giúp
phát triển DNNVV thông qua biện pháp về tài chính, tín dụng, khuyến khích các tổ chức tài
chính, các DN và thể nhân góp vốn đầu tư vào các DNNVV.
Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý tạo điều kiện cho các ngân hàng nới lỏng điều
kiện vay vốn, tạo điều kiện cho các DNNVV có thể huy động được vốn trung và dài hạn qua
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
75
Chương 4:Giải pháp góp phần hỗ trợ DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thông
qua công tác thẩm định tín dụng tại các NHTM
thị trường vốn, có biện pháp xử lý rủi ro bất khả kháng và những vấn đề liên quan đến sự
khác nhau giữa thời gian huy động vốn ngắn hạn nhưng cho vay trung và dài hạn

Vì vậy, ngoài sự phát huy nội lực, chủ động và tự tin đi lên của từng DNNVV là
chính, cần có sự tham gia tích cực giúp đỡ về mọi mặt của các bộ, ngành, các tổ chức hiệp
hội, có liên quan. Có như vậy cộng đồng DNNVV nước ta mới sớm tạo được thế đứng vững
chắc, hạn chế rủi ro trong sân chơi chung thương mại toàn cầu.
4.3 Giải pháp giúp nâng cao công tác thẩm định tín dụng trung và dài hạn
4.3.1 Thái độ của CBTD đối với các quyết định đầu tư vốn
Nghệ thuật của thẩm định không phải ở năng lực tính toán toán học, bởi một khi bạn
nắm vững được phương pháp bạn sẽ nhớ được phương pháp bạn sẽ nhớ được chúng. Kỹ năng
thực sự nằm ở chỗ lựa chọn các dự án xứng đáng ngay từ ban đầu, đánh giá về thời gian,
tiền bạc một cách chính xác trong một thời gian dài, sau đó diễn giải kết quả thu được.
Là CBTD chúng ta nên áp dụng nó ở nơi hữu dụng chứ không phải ở nơi vô dụng. Tuy
nhiên nếu thời gian và tiền bạc đề xuất mang một tầm quan trọng nào đó, chúng ta sẽ tự giúp
mình và giúp cả DN nếu chính ta nắm bắt được cả những phương án lựa chọn khác. Hãy nhớ
rằng các quyết định như vậy không chỉ cho việc mua sắm máy móc mà còn nhiều yếu tố dài
hạn khác nữa.
Mặc dù trọng tâm trước hết trong các quyết định tín dụng là năng lực thanh toán, CBTD
cần phải xem xét cả thế chấp và giá trị của tài sản để trả nợ vay nếu các kế hoạch không thể
trở thành hiện thực.
Một phương pháp được các ngân hàng sử dụng là so sánh nghĩa vụ tài sản nợ với giá trị
của tài sản khi bắt buộc phải bán. Cách tiếp cận này hữu ích khi xem xét tình trạng nợ của DN
trong tương quan với các tài sản có của họ.
Để làm phân tích này, giả sử rằng giá trị của tài sản trong bảng cân đối tài sản cuối cùng
gần xấp xỉ với giá trị hiện tại của tài sản. Nếu biết có sự chênh lệch đáng kể thì giá trị theo giá
thị trường gần nhất sẽ được áp dụng. Thông qua các tài sản lớn như cơ sở nhà xưởng kinh
doanh cần phải đựơc định giá bởi các chuyên gia độc lập.
Bởi khi DN không thể trả nợ thì tài sản này sẽ được đem ra bán, chúng ta có thể gải thiết
rằng các tài sản đó có khả năng không thể bán được theo giá trị hiện tại của chúng.
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
76
Chương 4:Giải pháp góp phần hỗ trợ DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thông
qua công tác thẩm định tín dụng tại các NHTM
Tuy nhiên giả thiết này có thể không đứng vững trong thời gian lạm phát cao hoặc khi
thiếu thiết bị trên thị trường.
4.3.2 Nâng cao chất lượng con người
Chất lượng tín dụng của một ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào sự lãnh đạo tài tình của
các nhà lãnh đạo cấp cao mà còn đỏi hỏi có một đội ngũ CBTD giỏi chuyên môn. Do đó, để
nâng cao chất lượng các khoản vay, cũng như công tác thẩm định tín dụng tại ngân hàng, đòi
hỏi các nhà lãnh đạo cấp cao và các CBTD phải:
a) Đối với các nhà lãnh đạo ngân hàng
Khi phân tích rủi ro, dù là rủi ro do hoàn cảnh, trách nhiệm trước hết vẫn thuộc về quản
lý ngân hàng. Do đó các nhà quản lý ngân hàng phải tiến hành phân tích, nghiên cứu, xem xét,
dự báo:
- Nghiên cứu tình hình cứu chính trị, xã hội trên thế giới và trong nước. Những dự báo
ảnh hưởng của thế giới đối với trong nước.
- Những biến động của tình hình xung quanh, mặt khác phải thưỡng xuyên hoàn thiện
quy chế, quy trình nghiệp vụ tín dụng, hình thức tín dụng, phương thức quản lý tổ chức, phát
triển môi trường kinh tế, pháp luật và thực tế thị trường.
- Diễn biến thị trường tiền tệ, thị trường vàng, thị trường chứng khoán.
- Mức độ tăng trưởng kinh tế của các ngành kinh tế chủ lực của đất nước, các ngành kinh
tế mà họ, chính là khách hàng chủ lực của ngân hàng.
- Dự báo về các hiện tượng kinh tế- xã hội như lạm phát, khủng hoảng, mất thăng bằng,
tăng giá vàng, ngoại tệ, tình hình tăng giảm của các mặt hàng nhập khẩu- xuất khẩu.
- Xem xét các diễn biến pháp lý của môi trường trong nước.
- Những dự báo về tự nhiên, thời tiết ảnh hưởng đến quá trình đầu tư.
b) Đối với các CBTD
- Do công tác thẩm định tín dụng luôn phức tạp và đa dạng do đó đòi hỏi CBTD cần có
một kiến thức tổng hợp về ngoại thương, kế toán, ngoại ngữ, luật pháp, tin học và quan trọng
hơn đó là một kỹ năng giao tiếp tốt.
- Đối với các dự án cho vay trung và dài hạn, CBTD phải có khả năng phân tích, thẩm
định và đánh giá hiệu quả dự án. Tuy nhiên, nhìn chung, trình độ, khả năng này của CBTD
thuộc các NHTM Việt Nam còn hạn chế. Vì vậy, nâng cao khả năng phân tích, thẩm định dự
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
77
Chương 4:Giải pháp góp phần hỗ trợ DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thông
qua công tác thẩm định tín dụng tại các NHTM
án của cán bộ ngân hàng thông qua việc đào tạo, đào tạo lại, tuyển chọn, là một giải pháp
quan trọng.
- Ngân hàng nên có hướng dẫn dành cho CBTD về loại hình dự án và ngành kinh tế đủ
điều kiện xem xét cho vay theo các hình thức tín dụng hoặc nguồn tài trợ khác nhau.
- Để có kiến thức chuyên môn trong quá trình thẩm định, CBTD nên trau dồi cho mình
kiến thức về nhiều ngành nghề kinh doanh, biết được đặc điểm, những thuận lợi và khó khăn
của những ngành nghề mà ngân hàng có chính sách câp tín dụng.
- CBTD không nên chủ quan trong qua trình thẩm định, tránh cho vay quá nhiều đối với
một số loại dự án hoặc ngành kinh tế nhất định có tầm quan trọng sống còn đối với các ngân
hàng. Nếu một ngân hàng tập trung quá nhiều rủi ro vào một loại dự án hoặc ngành kinh tế
nào đó, những vấn đề xảy ra trong ngành đó có thể đe dọa sự ổn định về tài chính của ngân
hàng. Nhiều ngân hàng đã ụp đổ vì vấn đề này.
- CBTD phải thưỡng xuyên tham gia vào các buổi hội thảo, chuyên đề có các chuyên gia
hàng đầu trong ngành để có thể học hỏi thêm những kiến thức, kinh nghiêm, thông thạo
nghiệp vụ, tạo niềm tin nơi khách hàng, cũng như phục vụ cho quá trình thẩm định
- Tất cả các câu hỏi nảy sinh trong quá trình thẩm định sơ bộ, CBTD cần phải giải đáp,
đồng thời cũng cần thu thập thêm các thông tin cần thiết. Tại cuộc phỏng vấn này, CBTD sẽ
đưa ra được đánh giá về tính cách của DN xin vay vốn, mặc dù các quyết định cuối cùng
không thể chỉ là dựa vào cảm giác, nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng có những vấn đề liên
quan đến tính cách có thể bộc lộ rõ sau những cuộc phỏng vấn ngắn. Phân tích chu kỳ hoạt
động và rủi ro tín dụng. Mọi DN đều có rủi ro tiềm ẩn trong tất cả các giai đoạn của chu kỳ
hoạt động. Thành công và sức mạnh tài chính của DN sẽ phụ thuộc vào kỹ năng quản lý rủi ro
này.
- Do kết quả tài chính có liên quan trực tiếp tới khả năng trả nợ của người vay, CBTD
cho vay cần phải hiểu rõ những rủi ro có thể ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động đó.
Bước đầu tiên trong bất kỳ mối quan hệ tín dụng nào cũng là việc thu thập một cách có
hệ thống thông tin về tài chính, kinh tế, thị trường, sản phẩm, đặc thù của DN hoặc bản chất
chung nhằm xác định loại và mức độ rủi ro liên quan. Bước đầu tiên của quá trình này là hiểu
được chu kỳ kinh doanh của DN.
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
78
Chương 4:Giải pháp góp phần hỗ trợ DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thông
qua công tác thẩm định tín dụng tại các NHTM
Nhiệm vụ của CBTD là định lượng các yếu tố khác nhau và đưa ra nhận định về độ an
toàn của khoản vay. Quá trình đánh giá cũng giúp xác định :
• Mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận được
• Sản phẩm ngân hàng cần có
• Cơ cấu khoản vay
• Điều kiện khoản vay
• Yêu cầu về tài sản đảm bảo
• Yêu cầu kiểm tra, giám sát
• Cơ cấu phí và lãi suất.
• Những rủi ro tiềm ẩn của một DN cụ thể liên quan đến từng giai đoạn của
chu kỳ kinh doanh.
4.3.3 Hạn chế lệ thuộc vào các báo cáo tài chính
Tình hình tài chính được phản ánh thông qua bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập và
báo cáo lưu chuyển tiền tệ có thể không có ý nghĩa nếu CBTD không hiểu cách thức tạo ra
những con số trên báo cáo này và những sai lệch có thể có.
Những thông tin quan trọng nhất trong các báo cáo tài chính có thể không chính xác hoặc
không đúng sự thực. Các phương pháp kế toán được sử dụng là nguyên nhân chính gây ra
những sai lệch trong các báo cáo tài chính và các chỉ số tài chính. Nhìn chung, các báo cáo tài
chính phải tuân thủ nguyên tắc nhất quán. Tuy nhiên, các chính sách kế toán khác nhau được
sử dụng bởi các DN khác nhau sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của DN với nhau. Do dó,
những yếu tố quan trọng sau cần xem xét trong quá trình phân tích các báo cáo tài chính:
a) Ghi nhận doanh thu: Thời điểm việc bán hàng được thực hiện trong báo cáo thu
nhập có thể khác nhau ở các DN khác nhau. Một cách tiếp cận nặng nề hơn có thể đẩy nhanh
hạng mục thu nhập bằng cách ghi nhận chúng vào thời điểm sớm nhất có thể, trong khi cách
tiếp cận thận trọng hơn có thể hoãn ghi nhận thu nhập đến thời điểm muộn hơn.
b)Phương pháp khấu hao: Chi phí khấu hao cho mục đích báo cáo tài chính trên các tài
sản tương đương nhau có thể khác nhau trong các DN khác nhau, phụ thuộc vào phương pháp
khấu hao áp dụng và cách xác định đời hữu dụng tài sản.
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
79
Chương 4:Giải pháp góp phần hỗ trợ DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thông
qua công tác thẩm định tín dụng tại các NHTM
c) Kế toán hàng tồn kho: Các chính sách kế toán hàng tồn kho có thể khác nhau. Một
DN sử dụng phương pháp vào trước ra sau (FIFO) sẽ cho thấy mức sinh lời cao hơn trong
thời kỳ giá tăng so với DN áp dụng phương pháp vào sau ra trước (LIFO).
d ) Ghi nhận chi phí: Các DN áp dụng các chính sách ghi nhận chi phí khác nhau và
điều này dẫn đến sự khác nhau trong lợi nhuận báo cáo. Một DN có thể đưa ra ngay vào chi
phí một hạng mục đã mang về thu nhập, trong khi DN khác lại vốn hóa cùng một hạng mục
như vậy và báo cáo mức lợi nhuận cao hơn.
e) Chi phí bất thường hoặc chi phí một lần: Có thể hoặc không được phản ánh trong
thu nhập từ hoạt động, phụ thuộc vào các chính sách kế toán.
g) Những lưu ý khi phân tích báo cáo tài chính hoặc các tỷ số tài chính.
Khó có thể tổng quát được một tỷ số cụ thể nào đó là tốt hay xấu. Ví dụ, một tỷ số thanh
toán hiện thời cao có thể cho thấy DN có khả năng thanh khoản tốt do DN có nhiều tiền dư
thừa. Tuy nhiên, việc có quá nhiều tiền dư thừa sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của DN
do lượng tiền này thường được để trong các tài khoản ngân hàng không hưởng lãi suất hoặc
mức lãi suất rất thấp. Tương tự, một tỷ số thể hiện vòng quay TSCĐ lớn có thể hàm ý hoặc là
DN đang sử dụng tài sản một cách có hiệu quả hoặc là DN có mức vốn hoá thấp và do không
có khả năng mua đủ TSCĐ cần thiết.
Các DN lớn thường có các bộ phận kinh doanh hoạt động trong các ngành khác nhau, và
do đó gây khó khăn cho việc xây dựng một bộ các chỉ số trung bình ngành cho mục đích so
sánh. Do đó, việc áp dụng phương pháp so sánh các tỷ số có thể hữu ích hơn đối với các
DN hoạt động trong một ngành nhất định.
Các DN có thể sử dụng các kỹ thuật để làm cho các báo cáo tài chính đẹp hơn trong con
mắt CBTD, hầu hết các DN đều muốn kết quả hoạt động tốt hơn mức trung bình. Do đó, việc
đạt được mức trung bình là chưa đủ và kết quả hoạt động nên được so sánh với các DN hàng
đầu trong ngành.
Lạm phát có thể sẽ làm sai lệch thông tin từ bảng cân đối kế toán của DN. Lạm phát sẽ
có ảnh hưởng đến chi phí khấu hao và giá vốn hàng tồn kho, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận
của DN. Do đó, việc phân tích tỷ số của một DN theo thời gian hoặc so sánh giữa các DN ở
các mức độ phát triển khác nhau phải được tiến hành một cách thận trọng.
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
80
Chương 4:Giải pháp góp phần hỗ trợ DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thông
qua công tác thẩm định tín dụng tại các NHTM
h) Báo cáo thu nhập, bảng cân đối kế toán và báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo thu nhập và bảng cân đối kế toán không cho thấy thông tin đầy đủ về lượng tiền
do DN tạo ra và sử dụng. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được thiết kế để chuyển đổi các nguyên
tắc kế toán dồn tích, được sử dụng để lập báo báo cáo thu nhập và bảng cân đối kế toán, thành
nguyên tắc dòng tiền. Việc phân tích tiền ra và vào của DN là rất quan trọng.
Giống như báo cáo thu nhập, báo cáo lưu chuyển tiền tệ đo lường hoạt động tài chính
trong một khoảng thời gian nhất định. Bên cạnh đó, báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo dõi
những biến động trên các tài khoản của bảng cân đối kế toán. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho
phép người sử dụng theo dõi lượng tiền ra và vào DN và cho biết nguyên nhân gây thừa hoặc
thiếu tiền. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong những công cụ quản lý tài chính hữu ích
nhất đối với CBTD.
Một vấn đề thực tiễn trong quá trình làm việc với các DNNVV của Việt Nam là các DN
này không bắt buộc phải lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ và do đó chỉ một số ít DN có báo cáo
này. Do đó, tuỳ tình huống mà CBTD có thể yêu cầu DN lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ để có
thông tin phù hợp cho quá trình phân tích tín dụng.
4.3.4 Thu thập thông tin tài chính giữa kỳ
Các ngày lập báo cáo thương niên và ngày bắt đầu thực hiện các dự báo tài chính thường
không trùng nhau. Do đó CBTD nên khuyến khích DN của mình lập báo cáo hàng năm vào
thời điểm bắt đầu năm tài chính của DN. Điều này giúp cả DN và ngân hàng dễ dàng so sánh
kết quả thực hiện với dự báo.
Nếu có khoảng cách giữa các kỳ báo cáo và dự báo, cần cố gắng tìm hiểu kết quả hoạt
động kinh doanh của DN trong giai đoạn này để xác định xem có thay đổi quan trọng nào
trong hoạt động kinh doanh kể từ ngày báo cáo gần nhất.
Cho dù kết quả hoạt động trong quá khứ không nhất thiết phải là định hướng cho các
hoạt động trong tương lai, thông tin từ các báo cáo tài chính là điểm khởi đầu cho việc đánh
giá các xu hướng và kế hoạch. Làm thế nào chúng ta lấy được các thông tin tài chính giữa kỳ
nếu giai đoạn này dài:
• Số dư tiền mặt
• Mức vay ngân hàng
• Doanh số bán hàng
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
81
Chương 4:Giải pháp góp phần hỗ trợ DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thông
qua công tác thẩm định tín dụng tại các NHTM
• Lợi nhuận gộp
• Giá trị của các khoản phải thu
• Giái trị của các khoản phải trả
4.3.5 Dự báo môi trường hoạt động của DN
DN có thể trình bày ngân hàng các dự báo tài chính của họ, nhưng CBTD đừng bao giờ
tin ngay những dự báo đó. DN không thể dự báo chính xác 100% độ lớn và tính thời điểm của
các dòng thu nhập và chi phí trong tương lai. Do đó, việc thấu hiểu quy trình dự báo của DN
hoặc các giả định của họ là rất cần thiết.
Các giả định hiếm khi được trình cùng với kết quả dự báo. Do đó bạn cần phải hỏi DN
để thấy được những suy nghĩ đằng sau những dự báo này. Ví dụ doanh số bán hàng được dự
báo như thế nào? Với những thông tin tương tự, kết quả dự báo có thể được so sánh với
những DN khác mà bạn biết và từ đó bạn có thể đánh giá bức tranh tổng thể và quyết định
tính tin cậy của kết quả dự báo.
a) Xác định kế hoạch thực hiện: Thể hiện kế hoạch kinh doanh trong kỳ tới, thường là
12 tháng bằng những con số tài chính.
- Chi tiết các mức doanh thu kỳ vọng
- Chi tiết mức lợi nhuận lỗ dự kiến.
- Ban lãnh đạo của DN nên cam kết thực hiện kế hoạch và sử dụng kế hoạch làm công cụ
để điều phối và kiểm soát.
b) Dự báo chi phí và thu nhập của DN: Tính chính xác của các chi phí và thu nhập dự
kiến phụ thuộc nhiều vào nhiều giả định và ước tính trong kế hoạch. Quá trình thẩm định
CBTD cần xác định được những yếu tố quan trọng, hỏi ban lãnh đạo DN và đánh giá tính hợp
lý của các giả định.
Nhiều DN lập dự báo chi phí và thu nhập và dự báo dòng tiền theo yêu cầu của ngân
hàng. Ngân hàng có thể cung cấp các mẫu biểu để họ cung cấp thông tin. Tuy nhiên việc thiếu
kinh nghiệm hoặc quá lạc quan về tình hình kinh doanh có thể dẫn đến những lỗi nghiêm
trọng trong việc sử dụng các giả định và ước tính và do đó CBTD phải xem xét chúng một
cách kỹ lưỡng.
Tính chính xác của các chi phí và thu nhập dự kiến phụ thuộc vào nhiều giả định và ước
tính trong kế hoạch, việc thiếu kinh nghiệm hoặc quá lạc quan về tình hình kinh doanh có thể
SVTH: Phan Thị Thanh Luân Trang
82

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét