Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Mở rộng Tín dụng đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam Chi nhánh Hoàn Kiếm.DOC

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ngân

hàng.

Đồng

thời



cũng





sở

để

thực hiện

các

chức

năng

khác.
- Chức năng trung gian thanh toán:
Ngân

hàng

thương

mại

làm

trung
gian

thanh

toán

khi



thực

hiện

thanh

toán

theo

yêu cầu

của

khách

hàng
như

trích

tiền

từ

tài

khoản

tiền

gửi

của

họ

để

thanh

toán

tiền

hàng hoá,

dịch
vụ

hoặc

nhập

vào

tài

khoản

tiền

gửi

của

khách

hàng

tiền

thu

bán

hàng


các khoản

thu

khác

theo

lệnh

của

họ.



đây

ngân

hàng

thương

mại

đóng

vai
trò



người

“thủ quỹ”

cho

các

doanh

nghiệp





nhân

bởi

ngân

hàng


người

giữ

tài

khoản

của

họ. Ngân

hàng

thương

mại

thực

hiện

chức

năng
trung

gian

thanh

toán

trên



sở

thực

hiện chức

năng

trung

gian

tín

dụng.
Bởi



thông

qua

việc

nhận

tiền

gửi,

ngân

hàng

đã

mở

cho khách

hàng

tài
khoản

tiền

gửi

để

theo

dõi

các

khoản

thu,

chi.

Đó

chính



tiền

đề

để
khách

hàng

thực

hiện

thanh

toán

qua

ngân

hàng,

đặt

ngân

hàng

vào

vị

trí
làm

trung

gian
thanh

toán.

Hơn

nữa,

việc

thanh

toán

trực

tiếp

bằng

tiền

mặt
giữa

các

chủ

thể

kinh

tế

có nhiều

hạn

chế

như

rủi

ro

do

phải

vận

chuyển
tiền,

chi

phí

thanh

toán

lớn,

đặc

biệt



với các

khách

hàng



cách

xa

nhau,
điều

này

đã

tạo

nên

nhu

cầu

khách

hàng

thực

hiện

thanh toán

qua

ngân
hàng.Việc

các

ngân

hàng

thương

mại

thực

hiện

chức

năng

trung

gian

thanh
toán



ý

nghĩa

rất to

lớn

đối

với

toàn

bộ

nền

kinh

tế.

Với

chức

năng

này,
các

ngân

hàng

thương

mại

cung cấp

cho

khách

hàng

nhiều

phương

tiện
thanh

toán

thuận

lợi

như

séc,

uỷ

nhiệm

chi,

uỷ nhiệm

thu,

thẻ

rút

tiền,

thẻ
thanh

toán,

thẻ

tín

dụng

Tuỳ

theo

nhu

cầu,

khách

hàng

có thể

chọn

cho
mình

phương

thức

thanh

toán

phù

hợp.

Nhờ

đó



các

chủ

thể

kinh
tế không

phải

giữ

tiền

trong

túi,

mang

theo

tiền

để

gặp

chủ

nợ,

gặp

người
phải

thanh

toán




gần

hay

xa



họ



thể

sử

dụng

một

phương

thức

nào
đó

để

thực

hiện

các

khoản

thanh
toán.

Do

vậy,

các

chủ

thể

kinh

tế

sẽ

tiết
kiệm

được

rất

nhiều

chi

phí,

thời

gian,

lại

đảm bảo được thanh toán an toàn.
Như

vậy,

chức

năng

này

thúc

đẩy

lưu

thông

hàng

hoá,

đẩy nhanh

tốc

độ
thanh

toán,

tốc

độ

lưu

chuyển

vốn,

từ

đó

góp

phần

phát

triển

kinh

tế.
Đồngthời,

việc

thanh

toán

không

dùng

tiền

mặt

qua

ngân

hàng

đã

giảm
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
được

lượng

tiền

mặt trong

lưu

thông,

dẫn

đến

tiết

kiệm

chi

phí

lưu

thông

tiền
mặt

như

chi

phí

in

ấn,

đếm

nhận, bảo

quản

tiền
Đối

với

ngân

hàng

thương

mại,

chức

năng

này

góp

phần

tăng

thêm
lợi

nhuận

cho

ngân hàng

thông

qua

việc

thu

lệ

phí

thanh

toán.

Thêm

nữa,


lại

làm

tăng

nguồn

vốn

cho

vay của

ngân

hàng

thể

hiện

trên

số





trong
tài

khoản

tiền

gửi

của

khách

hàng.

Chức

năng này

cũng

chính





sở

hình
thành

chức

năng

tạo

tiền

của

ngân

hàng

thương

mại.
- Chức năng tạo phương tiện thanh toán, hay còn gọi là chức năng “tạo
tiền”.
Khi



sự

phân

hoá

trong

hệ

thống

ngân

hàng,

hình

thành

nên

ngân
hàng

phát

hành

và các

ngân

hàng

trung

gian

thì

ngân

hàng

trung

gian

không
còn

thực

hiện

chức

năng

phát hành

giấy

bạc

ngân

hàng

nữa.

Nhưng

với
chức

năng

trung

gian

tài chính



trung

gian thanh

toán,

ngân

hàng

thương
mại

có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên
tài khoản
tiền gửi
thanh

toán

của

khách

hàng

tại

ngân

hàng

thương

mại.
Khi khách
hàng tại một Ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên
khoản thu, tức làm tăng số dư tiền gửi của một khách hàng khác tại một
Ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một
Ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ
thống Ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh
toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay(tạo tín dụng).
1.1.2. Hoạt động tín dụng của NHTM
Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh “Creditium” có nghĩa là tin tưởng, tín
nhiệm và trong tiếng Anh gọi là “Credit”. Cũng có thể hiểu nôm na “tín dụng”
có nghĩa là sự vay mượn. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử
dụng một lượng giá trị, dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu
sang người sử dụng, sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn. Trong
mỗi một hành vi tín dụng hai bên cam kết với nhau: Một bên giao một số tài
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hoá hay tiền bạc, còn bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của số tài
hoá đó trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó.
Nhà kinh tế người Pháp, ông Louis Baundin, đã định nghĩa tín dụng
như là “một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”. Ở đây,
chúng ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào và cũng vì có sự xen lẫn đó, cho
nên có thể có sự bất trắc, rủi ro xảy ra và cần có sự tín nhiệm của hai bên
đương sự đối với nhau. Hai bên đương sự dựa vào sự tín nhiệm, sử dụng sự
tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ tín dụng.
Những hành vi tín dụng có thể được thực hiện do bất cứ ai, chẳng hạn
hai người thường có thể cho nhau vay tiền. Tuy nhiên, với thời gian chúng ta
thấy một sự chuyên nghiệp đã xảy ra và ngày nay khi nói tới tín dụng người ta
thường nghĩ ngay tới các ngân hàng, vì các tổ chức này luôn làm những việc
như cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, ký thác…Mặt khác, trong một nền kinh tế
đã phát triển với thu nhập của những người làm công ăn lương gần tương
đương nhau và một hệ thống ngân hàng thế giới hiện đại thì mọi người chỉ có
vay mượn ngân hàng, hầu như không vay mượn lẫn nhau.
Hoạt động tín dụng có tầm quan trọng bậc nhất trong ngân hàng đặc
biệt là ở các nước đang phát triển và có nền kinh tế thị trường như ở nước ta.
Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm tới hơn 1/2 tổng
tài sản có, thu nhập do tín dụng đem lại chiếm khoảng 1/2 đến 2/3 tổng thu
nhập cho ngân hàng.
Ngân hàng thương mại có thể coi như một doanh nghiệp kinh doanh
tiền tệ với hoạt động chủ yếu là việc đi vay để cho vay. Hoạt động này của
ngân hàng thực chất là đi mua quyền sử dụng vốn để bán lại quyền sử dụng
vốn đó. Khác với các quan hệ mua bán thông thường, quan hệ tín dụng ngân
hàng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền
sở hữu khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới hình thức hàng
hoá hay tiền tệ cho người vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, sau khi
khai thác giá trị khoản vay trong thời hạn cam kết, người vay phải hoàn trả
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
toàn bộ giá trị khoản vay và thêm khoản lợi tức trả cho việc được sử dụng
khoản vay.
Trong quan hệ tín dụng, giá trị vốn tín dụng được chuyển từ người cho
vay sang người đi vay còn trong quan hệ mua bán hàng hoá giá trị hàng hoá
thay đổi hình thái vật chất nghĩa là hàng hoá vẫn giữ nguyên giá trị chỉ thay
đổi hình thái tồn tại. Trong việc cho vay, tiền với tư cách là một vật có đặc
điểm là quay trở lại điểm xuất phát với nguyên vẹn giá trị của nó đồng thời
cũng lớn lên trong quá trình luân chuyển.
Nói tóm lại, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sỏ
hoàn trả và có một số đặc trưng cơ bản sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình
thức là cho vay( bằng tiền) và cho thuê( bất động sản và động sản ). Trong
những năm 1960 trở về trước hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho
vay bằng tiền. Xuất phát từ đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho
vay được coi là đồng nghĩa với nhau. Từ những năm 1970 trở lại đây, dịch vụ
cho thuê tài chính và cho thuê vận hành đã được các ngân hàng hoặc các định
chế tài chính khác cung cấp cho khách hàng. Đây là một sản phẩm kinh doanh
của ngân hàng, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực( nhà ở, văn phòng
làm việc, máy móc- thiết bị)
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy nguời cho vay khi chuyển
giao tài sản cho người đi vay phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả
đúng hạn. Đây là một yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Trong
thực tế , một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ
sở đánh giá mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng đến các bảo
đảm, chính quan điểm này đã ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay. Để
thực hiện được nguyên tắc này, phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ
lạm phát. Tuy nhiên vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nên trong một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn lạm
phát, ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được trên cơ sở cam kết
hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ
tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…thực chất là lệnh phiếu trong đó
bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh
toán.
Các ngân hàng thương mại hiện nay thực hiện đa dạng các hình thức tín
dụng từ cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đến bảo lãnh, cho thuê tài chính,
phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng. Có thể phân loại tín dụng theo
nhiều tiêu thức khác nhau như sau:
1.1.2.1 Phân chia theo thời hạn cho vay:
• Cho vay ngắn hạn: Là việc cho vay với thời hạn dưới một năm
nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà
nước, doanh nghiệp, cá nhân ,hộ gia đình.
• Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, cho vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tín dụng
trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến
hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các
dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp,
chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: máy cày, máy
bơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều…
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn
hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là
những doanh nghiệp mới thành lập.
• Cho vay dài hạn: Thời hạn vay trên 5 năm và tối đa có thể lên đến
20-30 năm, một số trường hợp đặc biệt có thể lên đến 40 năm.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu
cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn,
xây dựng các xí nghiệp mới.
Nghiệp vụ truyền thống của các ngân hàng thương mại là cho vay ngắn
hạn, nhưng từ những năm 1970 trở lại đây, các ngân hàng thương mại đã chuyển
sang kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao
tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng.
1.1.2.2. Phân chia theo đảm bảo
• Cho vay có bảo đảm:
Cho vay bảo đảm biểu hiện việc cho vay có cầm giữ các vật thế chấp
cụ thể nào đó, ví dụ như: xe cộ, nhà cửa, đất đai hoặc hàng hoá…Vật thế chấp
những khoản nợ rất đa dạng song một yêu cầu cơ bản là phải có thể bán được.
Lý do chủ yếu đòi hỏi một khoản vay phải được đảm bảo là nhằm tạo điều
kiện để người cho vay giảm bớt rủi ro mất mát trong trường hợp người vay
không muốn hoặc không thể trả nợ vay khi đến hạn. Bảo đảm không có nghĩa
là món nợ sẽ được hoàn trả vì còn nhiều chi phí , công đoạn liên quan đến
việc xử lý tài sản đảm bảo. Việc bảo đảm chủ yếu để giảm bớt rủi ro cho ngân
hàng. Trong trường hợp giá trị thanh lý của tài sản vượt quá giá trị khoản vay
thì khoản chênh lệch sẽ được hoàn trả cho người vay nhưng nếu không đủ giá
trị khoản vay thì ngân hàng có thể trông đợi vào sự phán quyết của Toà án
hay tịch biên thêm tài sản của khách hàng.
Sự bảo đảm là yêu cầu phải có đối với các khoản cho vay vì một số
nguyên nhân. Thông thường đó là do sự yếu kém về tài chính của người vay
và khi đó thì ngân hàng cần có tài sản cầm cố, thế chấp để đảm bảo an toàn
cho hoạt động của ngân hàng. Việc thời hạn cho vay kéo dài đồng nghĩa với
rủi ro tăng thì việc đảm bảo gần như bắt buộc. Tỷ lệ cho vay tối đa được tính
trên giá trị tài sản đảm bảo và tỷ lệ đó cao hay thấp tuỳ vào từng quy định của
các ngân hàng, pháp luật, tư cách pháp nhân khách hàng…
• Cho vay không có bảo đảm
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Khác với cho vay có bảo đảm, cho vay không có bảo đảm được dựa
trên uy tín, khả năng tài chính lành mạnh của khách hàng, lợi tức có thể có
trong tương lai cùng tình hình trả nợ trước đây. Với những doanh nghiệp, cá
nhân mà nguồn thu nhập ổn định, là khách hàng lớn của ngân hàng, hoạt động
hiệu quả có thể ngân hàng sẽ cho vay những khoản vay lớn mà thiếu giá trị tài
sản đảm bảo thậm chí không có tài sản đảm bảo. Ở Việt Nam, trong những
năm 90 các ngân hàng chỉ được phép cho vay có bảo đảm trừ các doanh nghiệp
nhà nước kinh doanh có hiệu quả và cho vay hộ nông dân từ 5 triệu đồng trở
xuống. Ngày 29/12/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/1999/NĐ-
CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng; theo nghị định này việc cho
vay không có bảo đảm được mở rộng hơn so với trước cho phép các tổ chức tín
dụng được lựa chọn khách hàng để cho vay không có đảm bảo khi cho vay
ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển hoặc
phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Tuy nhiên, khách hàng
vay không đảm bảo phải hội đủ một số điều kiện cơ bản sau:
- Có tín nhiệm với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay
và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi
- Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi
có khả năng hoàn trả nợ hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi
phù hợp với quy định của pháp luật
- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
- Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của
tổ chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín
dụng, cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảo
đảm bằng tài sản
- Tổng mức cho vay không đảm bảo và điều kiện cho vay không đảm
bảo do Ngân hàng Nhà nước quy định.
1.1.2.3. Phân chia theo hình thức tài trợ
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Theo hình thức tài trợ tín dụng đựơc chia thành: chiết khấu thương
phiếu, cho vay, bảo lãnh, cho thuê.
 Chiết khấu thương phiếu: là việc NH ứng trước tiền cho khách
hàng tương ứng giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng
để sở hữu 1 thương phiếu chưa đến hạn. Đây là nghiệp vụ đơn giản nhất dựa
trên sự tín nhiệm giữa NH và những người ký tên trên thương phiếu.
 Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Hình
thức cho vay lại có thể phân chia thành:
• Cho vay doanh nghiệp: Đây các khoản tín dụng thương mại và công
nghiệp với thời hạn biến động từ một vài tháng đến vài năm. Hình thức tín
dụng có thể là vay món hoặc hạn mức. Doanh nghiệp có thể vay một lần toàn
bộ khối lượng tín dụng hoặc cũng có thể được cung cấp một hạn mức tín dụng
trong một khoản thời gian nhất định và sẽ được sử dụng trong phạm vi tín
dụng đó
• Cho vay tiêu dùng. Đây là hình thức tín dụng đang rất phát triển với
các sản phẩm, dịch vụ như cho vay ô tô trả góp, mua nhà trả góp, thấu chi. Sự
gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã
hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một thị trường đầy tiềm
năng. Mức lãi suất của các loại vay tiêu dùng khác nhau tuỳ thuộc vào đặc
điểm của khoản vay: chất lượng và hình thức thế chấp, mức độ rủi ro và các
yếu tố phi lãi suất kèm theo như các khoản phí hoặc hoa hồng. Phương thức
cho vay có thể cho vay trực tiếp hoặc thông qua tài trợ cho các doanh nghiệp
bán lẻ hàng lâu bền, các công ty xây dựng để các doanh nghiệp này bán hàng
trả góp. Cho vay tiêu dùng có rủi ro rất cao. Vì vậy ngân hàng thường yêu cầu
một mức lãi suất cao, yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm nhân thọ, hàng
hoá…
• Cho vay Chính phủ:Chính phủ cũng là một trong những khách hàng
của các ngân hàng thương mại. Hình thức phổ biến là ngân hàng mua trái
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phiếu do kho bạc nhà nước phát hành.Nhà nước cũng vay ngân hàng để đầu
tư phát triển hạ tầng cơ sở vật chất
• Cho vay các tổ chức tài chính khác: Việc vay mượn tạm thời giữa
các tổ chức tài chính, tín dụng rất phổ biến và cũng tạo điều kiện cho việc lưu
chuyển vốn nhanh hơn. Ở các nước có trình độ phát triển cao, các ngân hàng
thương mại có mối liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành cả một hệ thống hoạt
động hiệu quả.
• Cho vay liên quan đến bất động sản:
Việc cho vay đầu tư bất động sản đã có thời gian đem lại lợi nhuận rất
lớn cho ngân hàng ở một số nước như Việt Nam, Thái Lan Khi giá nhà, giá
đất rơi vào trạng thái đóng băng thì với các hoạt động tín dụng liên quan đến
bất động sản ngân hàng phải tăng cường sự giám sát, có sự điều chỉnh phù
hợp mức cho vay, định giá để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
Ngoài các dịch vụ căn bản trên, hoạt động tín dụng của ngân hàng còn
có một số dịch vụ như:
 Bảo lãnh
Đây là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực
hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện
đúng nghĩa vụ với bên thứ ba. Bảo lãnh phát triển nhờ uy tín của ngân hàng
ngày được nâng cao. Bảo lãnh thường được áp dụng trong lĩnh vực xây lắp.
Có nhiều loại bảo lãnh : bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo
lãnh bảo hành, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh thanh toán….Hoạt động bảo
lãnh sẽ giúp ngân hàng thu được phí bảo lãnh. Tuỳ từng trường hợp cụ thể và
tuỷ vào chính sách khách hàng của mỗi ngân hàng sẽ quy định khách hàng có
phải có bảo đảm cho khoản bảo lãnh hay không, khách hàng có thể được bảo
lãnh mà không cần tài sản bảo đảm hoặc phải có tài sản bảo đảm theo quy
định hoặc có thể sẽ phải ký quỹ một tỷ lệ nhất định đối với giá trị của khoản
bảo lãnh, có thể là 10%, 80% hay 100% số tiền bảo lãnh.
 Cho thuê
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản đẻ cho khách hàng thuê
theo những thảo thuận nhất định.
Với các thiết bị, phương tiện có giá trị lớn, các doanh nghiệp không
muốn mua có thể sử dụng dịch vụ cho thuê thiết bị trung và dài hạn của ngân
hàng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Ngân hàng sẽ
mua thiết bị và cho khách hàng thuê kèm theo một số điều kiện. Kết thúc hợp
đồng thuê, doanh nghiệp có thể được ưu tiên mua lại phương tiện với giá ưu
đãi. Người ta cũng gọi hình thức này là thuê mua tài chính. Hiện nay ở Việt
Nam có rất nhiều các công ty tài chính mà chủ yếu là thuộc các Ngân hàng
thương mại quốc doanh.
1.1.2.4. Phân chia theo rủi ro
Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ,
các căn cứ để chia loại rủi ro. Cách phân loại này giúp ngân hàng thường
xuyên đánh giá lại các khoản mục tín dụng, dự trù quĩ cho các khoản tín dụng
rủi ro cao, đánh giá chất lượng tín dụng.
• Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi.
• Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành
mạnh như khách hàng có hàng hóa tiêu thụ chậm, tiến độ thực hiện kế hoạch
bị chậm, khách hàng gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính,
….
• Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn với
thời hạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có
giá trị lớn…
• Nợ quá hạn khó đòi: là nợ qúa hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém,
tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì….
Ngoài các cách phân chia trên thì tín dụng còn đựơc phân chia theo
nhiều cách khác như theo ngành kinh tế, theo mục đích sử dụng…
1.2 Hoạt động tín dụng đối với DNNQD của NHTM
1.2.1 Khái quát về các DNNQD
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét