Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ngân
hàng.
Đồng
thời
nó
cũng
là
cơ
sở
để
thực hiện
các
chức
năng
khác.
- Chức năng trung gian thanh toán:
Ngân
hàng
thương
mại
làm
trung
gian
thanh
toán
khi
nó
thực
hiện
thanh
toán
theo
yêu cầu
của
khách
hàng
như
trích
tiền
từ
tài
khoản
tiền
gửi
của
họ
để
thanh
toán
tiền
hàng hoá,
dịch
vụ
hoặc
nhập
vào
tài
khoản
tiền
gửi
của
khách
hàng
tiền
thu
bán
hàng
và
các khoản
thu
khác
theo
lệnh
của
họ.
Ở
đây
ngân
hàng
thương
mại
đóng
vai
trò
là
người
“thủ quỹ”
cho
các
doanh
nghiệp
và
cá
nhân
bởi
ngân
hàng
là
người
giữ
tài
khoản
của
họ. Ngân
hàng
thương
mại
thực
hiện
chức
năng
trung
gian
thanh
toán
trên
cơ
sở
thực
hiện chức
năng
trung
gian
tín
dụng.
Bởi
vì
thông
qua
việc
nhận
tiền
gửi,
ngân
hàng
đã
mở
cho khách
hàng
tài
khoản
tiền
gửi
để
theo
dõi
các
khoản
thu,
chi.
Đó
chính
là
tiền
đề
để
khách
hàng
thực
hiện
thanh
toán
qua
ngân
hàng,
đặt
ngân
hàng
vào
vị
trí
làm
trung
gian
thanh
toán.
Hơn
nữa,
việc
thanh
toán
trực
tiếp
bằng
tiền
mặt
giữa
các
chủ
thể
kinh
tế
có nhiều
hạn
chế
như
rủi
ro
do
phải
vận
chuyển
tiền,
chi
phí
thanh
toán
lớn,
đặc
biệt
là
với các
khách
hàng
ở
cách
xa
nhau,
điều
này
đã
tạo
nên
nhu
cầu
khách
hàng
thực
hiện
thanh toán
qua
ngân
hàng.Việc
các
ngân
hàng
thương
mại
thực
hiện
chức
năng
trung
gian
thanh
toán
có
ý
nghĩa
rất to
lớn
đối
với
toàn
bộ
nền
kinh
tế.
Với
chức
năng
này,
các
ngân
hàng
thương
mại
cung cấp
cho
khách
hàng
nhiều
phương
tiện
thanh
toán
thuận
lợi
như
séc,
uỷ
nhiệm
chi,
uỷ nhiệm
thu,
thẻ
rút
tiền,
thẻ
thanh
toán,
thẻ
tín
dụng
Tuỳ
theo
nhu
cầu,
khách
hàng
có thể
chọn
cho
mình
phương
thức
thanh
toán
phù
hợp.
Nhờ
đó
mà
các
chủ
thể
kinh
tế không
phải
giữ
tiền
trong
túi,
mang
theo
tiền
để
gặp
chủ
nợ,
gặp
người
phải
thanh
toán
dù
ở
gần
hay
xa
mà
họ
có
thể
sử
dụng
một
phương
thức
nào
đó
để
thực
hiện
các
khoản
thanh
toán.
Do
vậy,
các
chủ
thể
kinh
tế
sẽ
tiết
kiệm
được
rất
nhiều
chi
phí,
thời
gian,
lại
đảm bảo được thanh toán an toàn.
Như
vậy,
chức
năng
này
thúc
đẩy
lưu
thông
hàng
hoá,
đẩy nhanh
tốc
độ
thanh
toán,
tốc
độ
lưu
chuyển
vốn,
từ
đó
góp
phần
phát
triển
kinh
tế.
Đồngthời,
việc
thanh
toán
không
dùng
tiền
mặt
qua
ngân
hàng
đã
giảm
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
được
lượng
tiền
mặt trong
lưu
thông,
dẫn
đến
tiết
kiệm
chi
phí
lưu
thông
tiền
mặt
như
chi
phí
in
ấn,
đếm
nhận, bảo
quản
tiền
Đối
với
ngân
hàng
thương
mại,
chức
năng
này
góp
phần
tăng
thêm
lợi
nhuận
cho
ngân hàng
thông
qua
việc
thu
lệ
phí
thanh
toán.
Thêm
nữa,
nó
lại
làm
tăng
nguồn
vốn
cho
vay của
ngân
hàng
thể
hiện
trên
số
dư
có
trong
tài
khoản
tiền
gửi
của
khách
hàng.
Chức
năng này
cũng
chính
là
cơ
sở
hình
thành
chức
năng
tạo
tiền
của
ngân
hàng
thương
mại.
- Chức năng tạo phương tiện thanh toán, hay còn gọi là chức năng “tạo
tiền”.
Khi
có
sự
phân
hoá
trong
hệ
thống
ngân
hàng,
hình
thành
nên
ngân
hàng
phát
hành
và các
ngân
hàng
trung
gian
thì
ngân
hàng
trung
gian
không
còn
thực
hiện
chức
năng
phát hành
giấy
bạc
ngân
hàng
nữa.
Nhưng
với
chức
năng
trung
gian
tài chính
và
trung
gian thanh
toán,
ngân
hàng
thương
mại
có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên
tài khoản
tiền gửi
thanh
toán
của
khách
hàng
tại
ngân
hàng
thương
mại.
Khi khách
hàng tại một Ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên
khoản thu, tức làm tăng số dư tiền gửi của một khách hàng khác tại một
Ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một
Ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ
thống Ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh
toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay(tạo tín dụng).
1.1.2. Hoạt động tín dụng của NHTM
Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh “Creditium” có nghĩa là tin tưởng, tín
nhiệm và trong tiếng Anh gọi là “Credit”. Cũng có thể hiểu nôm na “tín dụng”
có nghĩa là sự vay mượn. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử
dụng một lượng giá trị, dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu
sang người sử dụng, sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn. Trong
mỗi một hành vi tín dụng hai bên cam kết với nhau: Một bên giao một số tài
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hoá hay tiền bạc, còn bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của số tài
hoá đó trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó.
Nhà kinh tế người Pháp, ông Louis Baundin, đã định nghĩa tín dụng
như là “một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”. Ở đây,
chúng ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào và cũng vì có sự xen lẫn đó, cho
nên có thể có sự bất trắc, rủi ro xảy ra và cần có sự tín nhiệm của hai bên
đương sự đối với nhau. Hai bên đương sự dựa vào sự tín nhiệm, sử dụng sự
tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ tín dụng.
Những hành vi tín dụng có thể được thực hiện do bất cứ ai, chẳng hạn
hai người thường có thể cho nhau vay tiền. Tuy nhiên, với thời gian chúng ta
thấy một sự chuyên nghiệp đã xảy ra và ngày nay khi nói tới tín dụng người ta
thường nghĩ ngay tới các ngân hàng, vì các tổ chức này luôn làm những việc
như cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, ký thác…Mặt khác, trong một nền kinh tế
đã phát triển với thu nhập của những người làm công ăn lương gần tương
đương nhau và một hệ thống ngân hàng thế giới hiện đại thì mọi người chỉ có
vay mượn ngân hàng, hầu như không vay mượn lẫn nhau.
Hoạt động tín dụng có tầm quan trọng bậc nhất trong ngân hàng đặc
biệt là ở các nước đang phát triển và có nền kinh tế thị trường như ở nước ta.
Đối với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm tới hơn 1/2 tổng
tài sản có, thu nhập do tín dụng đem lại chiếm khoảng 1/2 đến 2/3 tổng thu
nhập cho ngân hàng.
Ngân hàng thương mại có thể coi như một doanh nghiệp kinh doanh
tiền tệ với hoạt động chủ yếu là việc đi vay để cho vay. Hoạt động này của
ngân hàng thực chất là đi mua quyền sử dụng vốn để bán lại quyền sử dụng
vốn đó. Khác với các quan hệ mua bán thông thường, quan hệ tín dụng ngân
hàng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền
sở hữu khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới hình thức hàng
hoá hay tiền tệ cho người vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, sau khi
khai thác giá trị khoản vay trong thời hạn cam kết, người vay phải hoàn trả
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
toàn bộ giá trị khoản vay và thêm khoản lợi tức trả cho việc được sử dụng
khoản vay.
Trong quan hệ tín dụng, giá trị vốn tín dụng được chuyển từ người cho
vay sang người đi vay còn trong quan hệ mua bán hàng hoá giá trị hàng hoá
thay đổi hình thái vật chất nghĩa là hàng hoá vẫn giữ nguyên giá trị chỉ thay
đổi hình thái tồn tại. Trong việc cho vay, tiền với tư cách là một vật có đặc
điểm là quay trở lại điểm xuất phát với nguyên vẹn giá trị của nó đồng thời
cũng lớn lên trong quá trình luân chuyển.
Nói tóm lại, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sỏ
hoàn trả và có một số đặc trưng cơ bản sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình
thức là cho vay( bằng tiền) và cho thuê( bất động sản và động sản ). Trong
những năm 1960 trở về trước hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho
vay bằng tiền. Xuất phát từ đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và cho
vay được coi là đồng nghĩa với nhau. Từ những năm 1970 trở lại đây, dịch vụ
cho thuê tài chính và cho thuê vận hành đã được các ngân hàng hoặc các định
chế tài chính khác cung cấp cho khách hàng. Đây là một sản phẩm kinh doanh
của ngân hàng, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực( nhà ở, văn phòng
làm việc, máy móc- thiết bị)
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy nguời cho vay khi chuyển
giao tài sản cho người đi vay phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả
đúng hạn. Đây là một yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Trong
thực tế , một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ
sở đánh giá mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng đến các bảo
đảm, chính quan điểm này đã ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay. Để
thực hiện được nguyên tắc này, phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ
lạm phát. Tuy nhiên vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nên trong một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn lạm
phát, ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được trên cơ sở cam kết
hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ
tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…thực chất là lệnh phiếu trong đó
bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh
toán.
Các ngân hàng thương mại hiện nay thực hiện đa dạng các hình thức tín
dụng từ cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đến bảo lãnh, cho thuê tài chính,
phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng. Có thể phân loại tín dụng theo
nhiều tiêu thức khác nhau như sau:
1.1.2.1 Phân chia theo thời hạn cho vay:
• Cho vay ngắn hạn: Là việc cho vay với thời hạn dưới một năm
nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà
nước, doanh nghiệp, cá nhân ,hộ gia đình.
• Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, cho vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tín dụng
trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến
hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các
dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp,
chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: máy cày, máy
bơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều…
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn
hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là
những doanh nghiệp mới thành lập.
• Cho vay dài hạn: Thời hạn vay trên 5 năm và tối đa có thể lên đến
20-30 năm, một số trường hợp đặc biệt có thể lên đến 40 năm.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu
cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn,
xây dựng các xí nghiệp mới.
Nghiệp vụ truyền thống của các ngân hàng thương mại là cho vay ngắn
hạn, nhưng từ những năm 1970 trở lại đây, các ngân hàng thương mại đã chuyển
sang kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao
tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng số dư nợ của ngân hàng.
1.1.2.2. Phân chia theo đảm bảo
• Cho vay có bảo đảm:
Cho vay bảo đảm biểu hiện việc cho vay có cầm giữ các vật thế chấp
cụ thể nào đó, ví dụ như: xe cộ, nhà cửa, đất đai hoặc hàng hoá…Vật thế chấp
những khoản nợ rất đa dạng song một yêu cầu cơ bản là phải có thể bán được.
Lý do chủ yếu đòi hỏi một khoản vay phải được đảm bảo là nhằm tạo điều
kiện để người cho vay giảm bớt rủi ro mất mát trong trường hợp người vay
không muốn hoặc không thể trả nợ vay khi đến hạn. Bảo đảm không có nghĩa
là món nợ sẽ được hoàn trả vì còn nhiều chi phí , công đoạn liên quan đến
việc xử lý tài sản đảm bảo. Việc bảo đảm chủ yếu để giảm bớt rủi ro cho ngân
hàng. Trong trường hợp giá trị thanh lý của tài sản vượt quá giá trị khoản vay
thì khoản chênh lệch sẽ được hoàn trả cho người vay nhưng nếu không đủ giá
trị khoản vay thì ngân hàng có thể trông đợi vào sự phán quyết của Toà án
hay tịch biên thêm tài sản của khách hàng.
Sự bảo đảm là yêu cầu phải có đối với các khoản cho vay vì một số
nguyên nhân. Thông thường đó là do sự yếu kém về tài chính của người vay
và khi đó thì ngân hàng cần có tài sản cầm cố, thế chấp để đảm bảo an toàn
cho hoạt động của ngân hàng. Việc thời hạn cho vay kéo dài đồng nghĩa với
rủi ro tăng thì việc đảm bảo gần như bắt buộc. Tỷ lệ cho vay tối đa được tính
trên giá trị tài sản đảm bảo và tỷ lệ đó cao hay thấp tuỳ vào từng quy định của
các ngân hàng, pháp luật, tư cách pháp nhân khách hàng…
• Cho vay không có bảo đảm
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Khác với cho vay có bảo đảm, cho vay không có bảo đảm được dựa
trên uy tín, khả năng tài chính lành mạnh của khách hàng, lợi tức có thể có
trong tương lai cùng tình hình trả nợ trước đây. Với những doanh nghiệp, cá
nhân mà nguồn thu nhập ổn định, là khách hàng lớn của ngân hàng, hoạt động
hiệu quả có thể ngân hàng sẽ cho vay những khoản vay lớn mà thiếu giá trị tài
sản đảm bảo thậm chí không có tài sản đảm bảo. Ở Việt Nam, trong những
năm 90 các ngân hàng chỉ được phép cho vay có bảo đảm trừ các doanh nghiệp
nhà nước kinh doanh có hiệu quả và cho vay hộ nông dân từ 5 triệu đồng trở
xuống. Ngày 29/12/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/1999/NĐ-
CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng; theo nghị định này việc cho
vay không có bảo đảm được mở rộng hơn so với trước cho phép các tổ chức tín
dụng được lựa chọn khách hàng để cho vay không có đảm bảo khi cho vay
ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển hoặc
phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Tuy nhiên, khách hàng
vay không đảm bảo phải hội đủ một số điều kiện cơ bản sau:
- Có tín nhiệm với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay
và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi
- Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi
có khả năng hoàn trả nợ hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi
phù hợp với quy định của pháp luật
- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
- Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của
tổ chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín
dụng, cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảo
đảm bằng tài sản
- Tổng mức cho vay không đảm bảo và điều kiện cho vay không đảm
bảo do Ngân hàng Nhà nước quy định.
1.1.2.3. Phân chia theo hình thức tài trợ
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Theo hình thức tài trợ tín dụng đựơc chia thành: chiết khấu thương
phiếu, cho vay, bảo lãnh, cho thuê.
Chiết khấu thương phiếu: là việc NH ứng trước tiền cho khách
hàng tương ứng giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng
để sở hữu 1 thương phiếu chưa đến hạn. Đây là nghiệp vụ đơn giản nhất dựa
trên sự tín nhiệm giữa NH và những người ký tên trên thương phiếu.
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Hình
thức cho vay lại có thể phân chia thành:
• Cho vay doanh nghiệp: Đây các khoản tín dụng thương mại và công
nghiệp với thời hạn biến động từ một vài tháng đến vài năm. Hình thức tín
dụng có thể là vay món hoặc hạn mức. Doanh nghiệp có thể vay một lần toàn
bộ khối lượng tín dụng hoặc cũng có thể được cung cấp một hạn mức tín dụng
trong một khoản thời gian nhất định và sẽ được sử dụng trong phạm vi tín
dụng đó
• Cho vay tiêu dùng. Đây là hình thức tín dụng đang rất phát triển với
các sản phẩm, dịch vụ như cho vay ô tô trả góp, mua nhà trả góp, thấu chi. Sự
gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã
hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một thị trường đầy tiềm
năng. Mức lãi suất của các loại vay tiêu dùng khác nhau tuỳ thuộc vào đặc
điểm của khoản vay: chất lượng và hình thức thế chấp, mức độ rủi ro và các
yếu tố phi lãi suất kèm theo như các khoản phí hoặc hoa hồng. Phương thức
cho vay có thể cho vay trực tiếp hoặc thông qua tài trợ cho các doanh nghiệp
bán lẻ hàng lâu bền, các công ty xây dựng để các doanh nghiệp này bán hàng
trả góp. Cho vay tiêu dùng có rủi ro rất cao. Vì vậy ngân hàng thường yêu cầu
một mức lãi suất cao, yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm nhân thọ, hàng
hoá…
• Cho vay Chính phủ:Chính phủ cũng là một trong những khách hàng
của các ngân hàng thương mại. Hình thức phổ biến là ngân hàng mua trái
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phiếu do kho bạc nhà nước phát hành.Nhà nước cũng vay ngân hàng để đầu
tư phát triển hạ tầng cơ sở vật chất
• Cho vay các tổ chức tài chính khác: Việc vay mượn tạm thời giữa
các tổ chức tài chính, tín dụng rất phổ biến và cũng tạo điều kiện cho việc lưu
chuyển vốn nhanh hơn. Ở các nước có trình độ phát triển cao, các ngân hàng
thương mại có mối liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành cả một hệ thống hoạt
động hiệu quả.
• Cho vay liên quan đến bất động sản:
Việc cho vay đầu tư bất động sản đã có thời gian đem lại lợi nhuận rất
lớn cho ngân hàng ở một số nước như Việt Nam, Thái Lan Khi giá nhà, giá
đất rơi vào trạng thái đóng băng thì với các hoạt động tín dụng liên quan đến
bất động sản ngân hàng phải tăng cường sự giám sát, có sự điều chỉnh phù
hợp mức cho vay, định giá để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
Ngoài các dịch vụ căn bản trên, hoạt động tín dụng của ngân hàng còn
có một số dịch vụ như:
Bảo lãnh
Đây là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực
hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện
đúng nghĩa vụ với bên thứ ba. Bảo lãnh phát triển nhờ uy tín của ngân hàng
ngày được nâng cao. Bảo lãnh thường được áp dụng trong lĩnh vực xây lắp.
Có nhiều loại bảo lãnh : bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo
lãnh bảo hành, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh thanh toán….Hoạt động bảo
lãnh sẽ giúp ngân hàng thu được phí bảo lãnh. Tuỳ từng trường hợp cụ thể và
tuỷ vào chính sách khách hàng của mỗi ngân hàng sẽ quy định khách hàng có
phải có bảo đảm cho khoản bảo lãnh hay không, khách hàng có thể được bảo
lãnh mà không cần tài sản bảo đảm hoặc phải có tài sản bảo đảm theo quy
định hoặc có thể sẽ phải ký quỹ một tỷ lệ nhất định đối với giá trị của khoản
bảo lãnh, có thể là 10%, 80% hay 100% số tiền bảo lãnh.
Cho thuê
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản đẻ cho khách hàng thuê
theo những thảo thuận nhất định.
Với các thiết bị, phương tiện có giá trị lớn, các doanh nghiệp không
muốn mua có thể sử dụng dịch vụ cho thuê thiết bị trung và dài hạn của ngân
hàng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Ngân hàng sẽ
mua thiết bị và cho khách hàng thuê kèm theo một số điều kiện. Kết thúc hợp
đồng thuê, doanh nghiệp có thể được ưu tiên mua lại phương tiện với giá ưu
đãi. Người ta cũng gọi hình thức này là thuê mua tài chính. Hiện nay ở Việt
Nam có rất nhiều các công ty tài chính mà chủ yếu là thuộc các Ngân hàng
thương mại quốc doanh.
1.1.2.4. Phân chia theo rủi ro
Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ,
các căn cứ để chia loại rủi ro. Cách phân loại này giúp ngân hàng thường
xuyên đánh giá lại các khoản mục tín dụng, dự trù quĩ cho các khoản tín dụng
rủi ro cao, đánh giá chất lượng tín dụng.
• Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi.
• Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành
mạnh như khách hàng có hàng hóa tiêu thụ chậm, tiến độ thực hiện kế hoạch
bị chậm, khách hàng gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính,
….
• Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn với
thời hạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có
giá trị lớn…
• Nợ quá hạn khó đòi: là nợ qúa hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém,
tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì….
Ngoài các cách phân chia trên thì tín dụng còn đựơc phân chia theo
nhiều cách khác như theo ngành kinh tế, theo mục đích sử dụng…
1.2 Hoạt động tín dụng đối với DNNQD của NHTM
1.2.1 Khái quát về các DNNQD
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét