Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Đấu tranh phòng, chống tội làm nhục người khác ở nước ta hiện nay

Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: lịch sử,
lôgíc, hệ thống, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, điều tra xã
hội
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt
Nam ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
thống về tội làm nhục người khác dưới hai góc độ: pháp lý hình sự và tội
phạm học. Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về
khoa học của luận văn:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về tội làm nhục người khác;
những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội phạm này trong pháp luật
hình sự hiện hành.
- Phân tích, đánh giá những quy định về tội làm nhục người khác trong
pháp luật hình sự một số nước trên thế giới nhằm rút ra những giá trị hợp lý về
lập pháp hình sự, để vận dụng có chọn lọc, bổ sung cho những luận cứ và giải
pháp được đề xuất trong luận văn.
- Đánh giá thực đúng thực trạng tình hình tội làm nhục người khác ở
Việt Nam, phân tích, làm rõ nguyên nhân, điều kiện của thực trạng đó.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu
quả đấu tranh phòng, chống tội làm nhục người khác.
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn, có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,
chống tội làm nhục người khác ở nước ta. Thông qua công trình nghiên cứu
này, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc đấu tranh
5
5
phòng, chống tội phạm làm nhục người khác là loại tội phạm có tính nhạy cảm
rất cao hiện nay.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ
làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa
học luật hình sự, tội phạm học nói riêng và các cán bộ thực tiễn đang công
tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 114 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, mục.
6
6
Chương 1
TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. KHÁI LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG QUY ĐỊNH
VỀ TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Tội làm nhục người khác trong thời kỳ phong kiến và Pháp
thuộc
Tội làm nhục người khác là một trong những tội phạm được đề cập rất
sớm trong luật hình sự Việt Nam.
Thời kỳ phong kiến, trong Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) là
“Bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhà Lê”, cũng là “Bộ
luật xưa nhất còn được lưu giữ đầy đủ ở nước ta” đã đề cập tội làm nhục người
khác tại các điều 489, 491 492, 496. Điều 489 quy định: “Học trò mà đánh và
lăng mạ thầy học, thì xử nặng hơn tội (đánh, lăng mạ) người thường ba bậc;
đánh chết thì phải tội chém "[10, tr. 178]. Đây là quy định mang tính nhân văn,
thể hiện truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc, để cho quy tắc đạo đức
“thầy ra thầy, trò ra trò” được thực hiện nghiêm chỉnh. Điều 495 Bộ luật còn
quy định: “Lăng mạ vợ của quan tại chức, thì bị tội cùng tiền tạ, đều xử giảm
tội lăng mạ người chồng ba bậc; lăng mạ đối với con thì tội lại xử giảm một
bậc nữa” [10, tr. 180].
Trong Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) được biên soạn trong một
thời gian dài, đến năm 1811 thì hoàn tất và năm 1812 được khắc in lần đầu ở
Trung Quốc, có hiệu lực từ năm 1813 trên phạm vi toàn quốc, tội làm nhục
người khác được đề cập tại các điều 293, 294, 295, 296, 297, 298, 299, 300.
7
7
Điều 293 quy định: “Phàm mắng người thì bị phạt 10 roi. Cùng mắng nhau,
thì mỗi người bị phạt 10 roi” [9, tr. 810].
Đáng lưu ý, hành vi làm nhục người khác những người thuộc giai cấp
bị trị thực hiện, bị trừng phạt rất nặng trong Hoàng Việt luật lệ. Điều đó cho
thấy, pháp luật hình sự bao giờ cũng mang tính giai cấp, được sử dụng để bảo
vệ quyền lợi của giai cấp thống trị. Điều 296 Bộ luật quy định: “Phàm nô tì
mắng gia trưởng thì bị phạt treo cổ (giam chờ), mắng hàng kỳ thân của gia
trưởng và ông bà ngoại của gia trưởng thì bị phạt 80 trượng, đồ hai năm, đại
công thì bị phạt 80 trượng, hàng tiểu công thì bị phạt 70 trượng, hàng ti ma thì
bị phạt 60 trượng. Nếu kẻ làm công mắng gia trưởng thì bị phạt 80 trượng, đồ
hai năm. Mắng hàng kỳ thân và ông bà ngoại gia trưởng thì phạt trăm trượng,
mắng hàng đại công thì phạt 60 trượng, mắng hàng tiểu công thì phạt 50 roi,
mắng hàng ti ma bị phạt 40 roi, bị thưa lên là bị tội. (Đó là nói cho rõ, trong
qua lại e có sự nghe lầm, cho nên phải chính người ấy nghe, có thể vì tình mà
bỏ qua, hay có ý giấu đi, cho nên phải chính người ấy thưa lên” [9, tr. 812 –
813].
Dưới thời Pháp thuộc, để bảo đảm thực hiện mục tiêu kinh tế thực dân,
thu lợi nhuận tối đa, thực dân Pháp thực hành chính sách chuyên chế về chính
trị. Chúng dùng lối cai trị trực tiếp, thẳng tay đàn áp, tuyệt đối không cho dân
ta bất cứ quyền tự do, dân chủ nào. Pháp luật nói chung, pháp luật hình sự do
thực dân Pháp đặt ra là để bảo vệ chế độ thực dân, phong kiến. Tội làm nhục
người khác cũng được đề cập trong pháp luật hình sự thời gian này, nhưng là
để bảo vệ nhân phẩm, danh dự của giai cấp thống trị, bóc lột. Trên tinh thần
đó, Điều 154 Luật hình An Nam quy định: "Trong khi quan lại đương làm
chức vụ, người nào lấy văn từ, ngôn ngữ, thư chỉ và làm việc gì hay là dọa
điều gì, để cho mất danh dự, thể diện của các viên quan lại ấy, phải phạt giam
từ một tháng đến hai năm, và phạt bạc từ hai mươi đồng đến hai trăm đồng"
8
8
[46, tr. 25]. Tương tự như vậy, Điều 222 Hình luật canh cải quy định: "Người
nào xỉ mạ quan bên chánh trị, bên Tòa hội đồng thẩm án, trong lúc mấy vị ấy
làm việc bổn phận hoặc dùng lời nói mà xỉ mạ, hoặc viết chữ hoặc vẽ hình mà
không có truyền ra ngoài, trong các cách ấy hoặc nói xấu cho danh giá, cho sự
liêm sỉ của các vị ấy, thì phải bị phạt tù từ 15 ngày cho tới 2 năm" [17, tr.54];
Điều 320 Hoàng Việt hình luật quy định: "Dùng lời nói, hoặc giấy má, viết tay
hay giấy in, bức vẽ hoặc những phương pháp khác mà lỵ mạ một người viên
chức đương khi làm chức vụ hay là nhân khi làm chức vụ, bất kỳ là công việc
hay không cũng gọi là lỵ mạ và chiếu theo Điều 145 chương thứ 12 mà nghĩ
xử" [18, tr. 445].
1.1.2. Tội làm nhục người khác trong thời kỳ từ khi Cách mạng
tháng Tám năm 1945 thành công cho đến trước khi Bộ luật hình sự năm
1985 ra đời
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, đã ban
hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật hình sự, nhằm bảo vệ chính
quyền nhân dân, chống thực dân Pháp, trừng trị bọn việt gian phản động.
Do tình hình kháng chiến diễn ra hết sức khẩn trương, không thể ban
hành kịp các văn bản quy phạm pháp luật nói chung, văn bản quy phạm pháp
luật hình sự cần thiết nói riêng, ngày 10-10-1945, Nhà nước ta đã ban hành
Sắc lệnh số 47-SL cho tạm thời giữ các luật lệ cũ, trong đó có Bộ "Luật hình
An Nam", Bộ "Hoàng Việt hình luật" và Bộ "Hình luật pháp tu chính" với điều
kiện "không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân
chủ cộng hòa" [34, tr. 190]. Trong bối cảnh này, việc đấu tranh chống tội
làm nhục người khác chưa được đặt ra.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền
Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay
9
9
sai thống trị. Ở miền Bắc, Đảng ta chủ trương tiến hành cách mạng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng miền Bắc thành căn cứ vững mạnh của cách mạng cả nước; ở
miền Nam, tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ nhằm giải phóng miền Nam
khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà.
Trong thời kỳ này, đối với việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân
phầm, danh dự của con người, pháp luật hình sự chủ yếu đề cập các tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe như giết người, gây thương tích, làm chết người
trong Thông tư số 442-TTg ngày19-11-1955 của Thủ tướng Chính phủ, mà
chưa có văn bản pháp luật hình sự nào quy định về các tội xâm phạm danh dự,
nhân phẩm nói chung, về tội làm nhục người khác nói riêng. Ngày 15-06-
1960, Tòa án nhân dân tối cao ra Chỉ thị số 1024 có đề cập tội hiếp dâm,
nhưng chưa đề cập tội làm nhục người khác. Trên cơ sở các kinh nghiệm mà
thực tiễn xét xử đã đúc kết được trong thời gian trước đó, ngày 11-05-1967,
Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối
xét xử tội hiếp dâm và các tội phạm khác về mặt tình dục, đề cập một cách
toàn diện 4 hình thức phạm tội: hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu với người dưới
16 tuổi, dâm ô, nhưng vẫn chưa đề cập tội làm nhục người khác [39, tr. 389].
Sau khi miền Nam được giải phóng, trong khi chờ đợi thống nhất nước
nhà về mặt Nhà nước, trên thực tế về hình thức, tạm thời tồn tại hai Nhà nước:
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Nhà nước Cộng hòa miền Nam Việt
Nam; mỗi Nhà nước có pháp luật riêng [20, tr.35]. Nhà nước Cộng hòa miền
Nam Việt Nam đã ban hành ngay một số chính sách, văn bản quy phạm pháp
luật hình sự nhằm phục vụ thực hiện một trong những nhiệm vụ quan trọng,
cấp bách là trấn áp bọn phản cách mạng và tội phạm khác, bảo vệ vững chắc
an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở nửa đất nước mới được giải phóng.
Cùng với việc ban hành Sắc luật về tổ chức Tòa án nhân dân và Viện
Kiểm sát nhân dân, Sắc luật quy định việc bắt, giam, khám người, khám nhà
10
10
ở, đồ vật của Người phạm tội, Nhà nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã
ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15-3-1976 quy định các tội phạm và hình
phạt. Sắc luật này được áp dụng trong phạm vi toàn quốc trước khi Bộ luật
hình sự được ban hành.
Sắc luật số 03-SL/76 có quy định về các tội xâm phạm đến thân thể và
nhân phẩm của công dân một cách đầy đủ hơn so với Thông tư số 442-TTg
ngày19-11-1955 của Thủ tướng Chính phủ Điểm d Điều 5 Sắc luật quy định:
“Phạm các tội khác xâm phạm thân thể và nhân phẩm của công dân thì bị phạt
tù từ 3 tháng đến 5 năm những kẻ lập công chuộc tội" [40, tr. 236]. Trên cơ sở
quy định này, các Tòa án đã vận dụng xử lý một số trường hợp phạm tội làm
nhục người khác.
1.1.3. Tội làm nhục người khác thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật
hình sự năm 1985 đến nay
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IV, V của Đảng, nhân dân ta đã giành được một số thành tựu nhất định
trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, tạo ra những cơ sở đầu tiên cho sự
phát triển mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta đã gặp phải nhiều
khó khăn và khuyết điểm do duy trì quá lâu cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp,
nên không thực hiện được mục tiêu đã đề ra là ổn định một cách cơ bản tình
hình kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân. Về mặt lập pháp hình sự, các văn
bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành không thể hiện được toàn diện, đầy
đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Trong bối cảnh đó, việc ban
hành Bộ luật hình sự là vấn đề mang tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có ý
nghĩa góp phần phục vụ thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngày 27-6-1985,
tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
11
11
VII, đã thông qua Bộ luật hình sự, có hiệu lực từ ngày 1-1-1986 (sau đây gọi
tắt là Bộ luật hình sự năm 1985).
Bộ luật hình sự năm 1985 đã kế thừa và phát triển những thành tựu lập
pháp hình sự Việt Nam, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội
phạm trong thời gian trước năm 1985 và dự báo được tình hình tội phạm trong
thời gian tới.
Trong Bộ luật hình sự năm 1985, tiếp theo việc quy định các tội xâm
phạm an ninh quốc gia ở chương 1, nhà làm luật đã quy định các tội xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự ở chương 2 và quy định các
tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân ở chương 3. Đây là hai
chương của Bộ luật hình sự bao gồm những quy phạm pháp luật trực tiếp bảo
vệ con người với tính chất là chủ thể của các quan hệ xã hội. Bộ luật hình sự
năm 1985 quy định tội làm nhục người khác tại Điều 116, tội làm nhục người
chỉ huy hoặc cấp trên tại Điều 253, tội làm nhục cấp dưới tại Điều 254, tội làm
nhục đồng đội tại Điều 255. Việc Bộ luật hình sự năm 1985 lần đầu tiên chính
thức ghi nhận về mặt pháp lý tội làm nhục người khác, tội làm nhục người chỉ
huy hoặc cấp trên, tội làm nhục cấp dưới, tội làm nhục đồng đội, đánh dấu sự
trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta trong lĩnh vực bảo vệ
nhân phẩm, danh dự của con người
Bộ luật đã đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm tội làm nhục người
khác là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác
và quy định hai khung hình phạt. Khung cơ bản có mức phạt cảnh cáo, cải tạo
không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Khung tăng
nặng có mức phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ
3 tháng đến 2 năm. Đây là những trường hợp người phạm tội đã có hành vi
làm nhục người thi hành công vụ để cản trở người đó thi hành công vụ hoặc để
12
12
trả thù người đó vi đã thi hành công vụ, ảnh hưởng tới lợi ích của người phạm
tội hay người thân hoặc gia đình họ.
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sự nghiệp đổi
mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu quan
trọng trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi cơ chế, bên
cạnh những mặt tích cực, mặt trái nền kinh tế thị trường cũng đã làm nảy sinh
nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó tình hình tội phạm diễn biến phức tạp. Bộ luật
hình sự năm 1985 được ban hành trong thời kỳ của cơ chế tập trung, quan liêu,
bao cấp, cho nên tuy đã phản ánh được nhu cầu bức xúc của cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm thời kỳ đó, nhưng ở một mức độ nhất định vẫn chịu
ảnh hưởng nhất định của cơ chế đó. Vì vậy, Bộ luật này không phù hợp cho
việc bảo vệ các quan hệ phát sinh trong nền kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường, dưới sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, Bộ luật hình sự năm 1985 còn có những hạn chế
nhất định về kỹ thuật lập pháp hình sự nhiều tội danh được quy định quá
chung chung; một số hành vi phạm tội với tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội khác nhau nhưng lại được quy định trong một điều luật với cùng một
chế tài; khung hình phạt trong nhiều điều luật quá rộng, dễ dẫn đến tiêu cực
Hạn chế lớn nhất của Bộ luật hình sự năm 1985 là qua bốn lần sửa đổi, bổ
sung, Bộ luật này đã không còn là một chỉnh thể thống nhất.
Trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nhất là
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc sửa đổi
toàn diện Bộ luật hình sự năm 1985 là một đòi hỏi mang tính tất yếu khách
quan. Ngày 21-12-1999, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa X, đã thông qua Bộ luật hình sự (sau đây gọi tắt là Bộ
luật hình sự năm 1999), thay thế cho Bộ luật hình sự năm 1985. Bộ luật hình
sự năm 1999 có hiệu lực từ ngày 1-7-2000. Bộ luật hình sự năm 1999 quy
13
13
định tội làm nhục người khác tại Điều 121, tội làm nhục người chỉ huy hoặc
cấp trên tại Điều 319, tội làm nhục cấp dưới tại Điều 320, tội làm nhục đồng
đội tại Điều 321.
So với Bộ luật hình sự năm 1985, những quy định về tội làm nhục
người khác trong Bộ luật hình sự năm 1999 có những điểm mới cơ bản như
sau:
Thứ nhất, quán triệt chính sách hình sự của Nhà nước ta trong việc xử
lý hình sự đối với những người thực hiện các hành vi xâm phạm đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người là nghiêm khắc hơn,
khung cơ bản Điều 121 quy định tội làm nhục người khác có mức phạt cảnh
cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm (trong Bộ luật hình sự năm 1985 là
một năm).
Thứ hai, khung tăng nặng có mức phạt tù từ một năm đến ba năm
(trong Bộ luật hình sự năm 1985 là cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc
bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm).
Thứ ba, bổ sung một số tình tiết định khung tăng nặng hình phạt như
phạm tội nhiều lần, đối với nhiều người, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, đối với
người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.
Thứ tư, quy định thêm hình phạt bổ sung: người phạm tội còn có thể bị
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một
năm đến năm năm (trong Bộ luật hình sự năm 1985 không có quy định này).
1.2. TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM
1999
1.2.1. Khái niệm tội làm nhục người khác
Tội làm nhục người khác có mối quan hệ chặt chẽ với danh dự và nhân
phẩm con người. Cho nên, để có thể làm sáng tỏ khái niệm tội làm nhục người
14
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét