Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013

Luận văn phát triển chính phủ điện tử ở một số nước bài học kinh nghiệm đối với việt nam

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AGLS: Government Locator Service Standard
ATO: Australian Taxation Office
CIO: Chief Information Officer
G2B: Government to Business
G2C: Government to Citizen
G2E: Government to Employee
G2G: Government to Government
ICT: Information and Communication Technology
IEE: Internal Effectiveness and Efficiency
IMSC: Information Management Strategy Committee
IPT: Integrated Project Team
NOIE: National Office for the Information economy
OMB: Office of Management and Budget
RCB: Registry of Companies and Businesses
RCSA: Recruitment and Consulting Service Association
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò của nhà nước ngày càng
trở nên quan trọng. Nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc hoạch định các
chính sách về kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm mục tiêu xây dựng một xã hội công
bằng, văn minh và đưa nền kinh tế phát triển sánh ngang với các cường quốc
kinh tế trên thế giới. Nhưng làm thế nào để các chủ trương chính sách đó đến
được với nhân dân mới là vấn đề mà Chính phủ cần phải suy tính.
Các nước phát triển trên thế giới đã tìm ra lời giải cho bài toán, đó là phát
triển Chính phủ điện tử. Hầu hết các nước này đã nhận thức được rằng Chính
phủ điện tử mang lại rất nhiều lợi ích cho đất nước. Trong tương lai, nước nào
có một nền Chính phủ điện tử phát triển, nước đó sẽ có lợi thế hơn các nước
khác. Không một nước nào muốn bị tụt hậu so với các nước, do đó, phát triển
Chính phủ điện tử đã trở thành xu hướng chung của các quốc gia trên toàn thế
giới.
Thế nhưng, ở nước ta, khái niệm Chính phủ điện tử đối với hầu hết mọi
người là một khái niệm hoàn toàn mới mẻ và hết sức lạ lẫm. Hầu như chẳng ai
biết Chính phủ điện tử là gì chứ không nói gì đến việc liệu Chính phủ điện tử sẽ
mang lại lợi ích gì cho đất nước. Hiện nay có rất ít, nếu không nói là không có
tác giả trong nước nào đề cập đến vấn đề Chính phủ điện tử. Các nước phát triển
trên thế giới đã đề ra và thực hiện chiến lược Chính phủ điện tử từ nhiều năm
trước, vậy mà nước ta mới bắt đầu triển khai các đề án tin học hoá quản lý nhà
nước. Khởi động chậm như vậy thì nước ta còn rất lâu mới đuổi kịp các nước
khác.
Do vậy, nghiên cứu về Chính phủ điện tử là vấn đề rất cần thiết đối với
nước ta. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em mạnh dạn lựa chọn
đề tài: "PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở MỘT SỐ NƯỚC - BÀI HỌC KINH
NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM" với hy vọng phần nào đó nâng cao nhận thức của
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
1
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
mình về vấn đề này cũng như đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển Chính
phủ điện tử ở Việt Nam.
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Khoá luận bắt đầu bằng việc nghiên cứu những nội dung cơ bản về Chính
phủ điện tử với mục đích đem lại cái nhìn tổng quát, khách quan nhất về Chính
phủ điện tử. Từ đó, khoá luận sẽ đi sâu nghiên cứu về chiến lược và tổng hợp
một số dữ liệu về thực trạng phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước tiêu
biểu, cụ thể là ba nước Mỹ, Australia và Singapore, qua đó rút ra một số bài học
kinh nghiệm về phát triển Chính phủ điện tử. Phần cuối cùng của bài khoá luận
sẽ dành để tìm hiểu và đánh giá các tiền đề cho việc xây dựng Chính phủ điện tử
ở Việt nam, từ đó đề ra định hướng và một số kiến nghị nhằm phát triển Chính
phủ điện tử ở Việt nam.
3. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sau: Phương pháp
nghiên cứu tham khảo và tổng hợp tài liệu; Phương pháp suy luận logic, phương
pháp so sánh.
4. Kết quả nghiên cứu
Qua nghiên cứu về chiến lược phát triển Chính phủ điện tử ba nước Mỹ,
Singapore và Australia, khoá luận đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm
cho các nước đi sau. Khoá luận cũng đã đi sâu tìm hiểu về tình hình chuẩn bị
cho phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam.Từ đó, khoá luận đã mạnh dạn đề
xuất các giải pháp phát triển Chính phủ điện tử phù hợp với khả năng của nước
ta.
5. Nội dung nghiên cứu
Khoá luận gồm ba chương:
Chương I: Tổng quan về chính phủ điện tử
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
2
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Chương II: Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước và bài học kinh
nghiệm với Việt nam
Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển Chính phủ điện tử ở Việt nam
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Thầy Nguyễn Quang Hiệp,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này. Em cũng
xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các bạn đã giúp đỡ em trong việc thu
thập tài liệu để hoàn thành khoá luận này.
Do trình độ còn hạn chế và thời gian cũng có hạn, khoá luận này chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý
chân thành của các thầy cô giáo và các bạn.
Hà nội, ngày 20/11/2003
Sinh viên
Trần Thị Liên
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
3
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ
1. Sự ra đời Chính phủ điện tử
Ngày nay người ta nói nhiều về Chính phủ điện tử (e-government). Một
khi mà Internet và thương mại điện tử ra đời, thì sự ra đời Chính phủ điện tử là
điều tất yếu. Trước kia, hầu hết chính phủ các nước phải giải quyết các vấn đề
kinh tế xã hội theo cách cũ, tức là hoàn toàn không có sự tham gia của công
nghệ thông tin và viễn thông. Như đã thấy ở hầu hết các nước, cơ cấu bộ máy
nhà nước bao gồm các Bộ như bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Bộ Giao thông vận tải, Bộ
Thương mại, Bộ Khoa học và công nghệ… Trung bình mỗi chính phủ có
khoảng 50 tới 70 bộ hay cơ quan khác nhau ở trung ương. Mỗi bộ như vậy đều
có các cơ quan chức năng riêng. Việc phát hiện một cơ quan làm không đúng
chức năng, nhiệm vụ của mình có thể là khó khăn. Tệ hơn, ngay cả các vấn đề
đơn giản như cấp giấy phép kinh doanh cho một doanh nghiệp, bán một căn nhà
hoặc đăng ký khai sinh cho trẻ sơ sinh thì một số lớn các cơ quan khác nhau đòi
hỏi một số biểu mẫu khác nhau. Điều này là quá thừa và không cần thiết. Hơn
nữa, thủ tục giải quyết vấn đề về quản lý thường quá rườm rà, gây khó khăn cho
người dân khi có nhu cầu.
Ví dụ như phố Phoenix tỉnh thành Arizon thuộc bang SW Tây Nam nước
Mỹ, dân chúng thường xuyên phải chen lấn nối đuôi nhau để đăng ký lại xe hơi
và xe tải đã gây ồn ào và làm bẩn cả một khu vực trước trụ sở thành phố. Tình
trạng này đã xảy ra không riêng gì ở Mỹ mà ở hầu hết các nước trên thế giới.
Dân chúng quan hệ với các cơ quan, ban ngành của chính phủ từ trung ương đến
địa phương đều nằm trong tình trạng ảm đạm và hao phí thời gian nên họ cũng
muốn tránh né càng nhiều càng hay.
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
4
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Một trong các lý do cơ bản làm cho khu vực công kém hiệu quả, quan liêu
là những việc xảy ra ở trên. Hệ thống tổ chức hàng dọc hay ngang của các cơ
quan có quá nhiều ban ngành tạo ra sự phức tạp cho cán bộ nhân viên trong lúc
thừa hành nhiệm vụ. Để giải quyết tình trạng trên, Chính phủ các nước trên thế
giới đã tìm ra giải pháp áp dụng Internet và các thành tựu khác của khoa học
công nghệ để cải thiện hoạt động của bộ máy nhà nước.
Khả năng áp dụng Internet để cung cấp thông tin Chính phủ tới mọi người
ở mọi nơi mà không cần bất cứ khâu trung gian nào sẽ ảnh hưởng rất lớn tới bản
thân các quan chức Chính phủ. Các doanh nghiệp nhỏ có thể thu thập các quy
tắc và các văn bản pháp luật dễ dàng hơn mà không cần phải thông qua luật sư.
Ngay cả người dân cũng có thể nộp thuế từ nhà riêng vừa đỡ tốn thời gian tiền
bạc vừa hiệu quả. Mặt khác, việc mọi người có thể chủ động hơn khi truy cập
các thông tin và sử dụng các dịch vụ của Chính phủ cũng góp phần hạn chế hiện
tượng lạm dụng quyền lực của các quan chức nhà nước, bảo vệ quyền lợi cá
nhân cho công dân và đảm bảo an toàn và bảo mật các thông tin quan trọng của
Chính phủ.
Mặc dù vẫn còn sớm để dự đoán những ảnh hưởng của Internet đối với
Chính phủ, nhưng có một điều chắc chắn rằng những ứng dụng của Internet
trong việc đưa thông tin và dịch vụ của Chính phủ tới mọi người ở mọi nơi mọi
lúc tạo ra cơ hội mở rộng, cải thiện và nâng cao chất lượng thông tin và dịch vụ
của Chính phủ. Lợi ích của việc áp dụng Internet lại càng rõ ràng khi các Chính
phủ trên khắp thế giới đang tự chuyển đổi sang Chính phủ điện tử. Vậy lý do của
tất cả các hành động trên là gì và cơ sở hạ tầng thông tin đóng vai trò gì trong
việc này?
1.1. Lý do ra đời Chính phủ điện tử
Có 4 lý do chính khiến Chính phủ các nước chuyển đổi sang Chính phủ
điện tử:
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
5
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
1.1.1. Tiết kiệm chi phí cho cả Chính phủ và dân chúng
Trên thế giới hầu hết các Chính phủ đều nằm trong tình trạng chịu gánh
nặng về chi phí. Mặc dù ở nhiều nước, khoản thu từ thuế tăng lên cùng với tốc
độ tăng của nền kinh tế, đặc biệt là ở các nước công nghiệp, các khoản chi tiêu
của Chính phủ vẫn tăng lên một cách nhanh chóng, nhất là khi dân số và các yếu
tố khác tăng làm cho các khoản chi dành cho lương hưu và các khoản trợ cấp
thất nghiệp, y tế tăng nhanh mỗi năm. Những khoản chi như vậy làm cho ngân
sách nhà nước ngày càng cạn kiệt, khiến cho Chính phủ phải vắt óc nghĩ cách
giảm chi phí. Chính phủ các nước thấy rằng áp dụng công nghệ thông tin và viễn
thông vào quản lý hành chính nhà nước và cung cấp dịch vụ của Chính phủ vừa
giúp giảm chi cho nhà nước vừa tiết kiệm thời gian tiền bạc cho các đối tượng
sử dụng dịch vụ của Chính phủ. Rõ ràng là sử dụng dịch vụ thanh toán bằng
điện sẽ nhanh hơn và rẻ hơn rất nhiều so với việc dùng tiền mặt hay các phương
tiện thanh toán truyền thống khác. Chính phủ cũng tiết kiệm được rất nhiều nếu
đăng tải các thông tin mời thầu trên mạng thay vì phải đăng tải trên báo chí.
Từ năm 1996, thành phố Arizona của Mỹ đi tiên phong trong việc cho
phép dân chúng sử dụng dịch vụ đăng ký lại giấy phép lái xe qua trang Web.
Thay vì phải đứng xếp hàng cả buổi trước sở giao thông để chờ đến lượt mình
thì nay dân chúng có thể lên mạng đăng ký số xe, xin bảng số 24/24 giờ liên tục
và 7 ngày một tuần. Nhờ giao dịch qua mạng nên mỗi giao dịch rút lại trung
bình chỉ còn 2 phút và người dân cũng tiết kiệm được chi phí do không phải
đóng lệ phí cho Sở Giao thông như trước đây. Website này do IBM xây dựng,
bảo quản và công ty này được trả 2% trên trị giá của giao dịch. Tiến trình thực
hiện trên mạng chỉ tốn 1,6 USD so với 6,6USD cho mỗi giao dịch tại Sở. Việc
này tiết kiệm cho Chính phủ một số tiền lớn, Sở Giao thông tiết kiệm được 1,7
triệu USD mỗi năm nhờ cung cấp dịch vụ qua mạng. (Nguồn: Kinh tế học
Internet: Từ thương mại điện tử đến Chính phủ điện tử - Vương Liêm, NXB Trẻ,
2001)
1.1.2. Áp lực cạnh tranh từ khu vực tư nhân
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
6
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Ngoài vấn đề chi phí, Chính phủ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày
càng tăng và phức tạp từ khu vực tư nhân. Trong nền kinh tế thị trường và môi
trường cạnh tranh tự do hiện nay, sản phẩm và dịch vụ khách hàng do khu vực
tư nhân cung cấp ngày càng tăng về cả lượng và chất. Các công ty đang rất tích
cực tìm hiểu thị hiếu và tâm lý khách hàng để tìm cách khác biệt hoá sản phẩm
và dịch vụ của mình so với các công ty khác. Mặc dù việc này mang lại nhiều
lợi ích cho người tiêu dùng và xã hội, song nó lại làm nảy sinh một vấn đề quan
trọng, đó là khi các khách hàng được hưởng dịch vụ ngày càng tốt từ khu vực tư
nhân thì họ lại càng mong đợi một dấu hiệu tương tự từ các dịch vụ của Chính
phủ. Trước đây, khi Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ phục vụ người
dân, việc phải bỏ ra bao nhiêu chi phí để cung cấp dịch vụ đó luôn là vấn đề
được xem xét đầu tiên, sau đó mới đến chất lượng dịch vụ. Nếu cứ trong tình
trạng này thì chất lượng dịch vụ do Chính phủ cung cấp không bao giờ cạnh
tranh được với chất lượng dịch vụ của khu vực tư nhân. Vì vậy, các công dân
càng được hưởng dịch vụ tốt bao nhiêu từ khu vực tư nhân lại càng yêu cầu bấy
nhiêu từ các dịch vụ do Chính phủ cung cấp.
1.1.3. Công nghệ thông tin và viễn thông đang cải thiện chất lượng dịch vụ
ở khắp mọi nơi
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, Chính
phủ cũng nhận thấy áp dụng khoa học công nghệ là một biện pháp hữu hiệu để
cải thiện chất lượng dịch vụ. Nếu một sinh viên đại học có thể đăng ký lớp cho
mình qua mạng từ nhà hay từ ký túc xá thì tại sao Chính phủ lại không thể cho
phép công dân của mình nộp thuế theo cách tương tự như vậy? Khi công nghệ
góp phần cải thiện chất lượng dịch vụ Chính phủ theo hướng tích cực cả về tính
kinh tế lẫn tính kỹ thuật thì Chính phủ không còn sự lựa chọn nào khác là phải
đi theo chiều hướng chung đó. Sử dụng công nghệ hiện đại, thoạt tiên các viên
chức Chính phủ cần phải giải quyết với nhiều loại giao dịch phong phú hơn với
công dân và do đó phải có kiến thức sâu rộng hơn về công nghệ.
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
7
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Các tổ chức Chính phủ cũng sẽ chịu nhiều ảnh hưởng. Trước kia, nếu một
công dân muốn xin giấy phép lái xe, đăng ký xe hay muốn nộp thuế, anh ta sẽ
phải đến ba cơ quan nhà nước khác nhau. Chỉ để thực hiện một dịch vụ rất đơn
giản mà phải đi đến rất nhiều nơi và thực hiện nhiều thủ tục rườm rà. Để giải
quyết tình trạng này, Chính phủ cần phải rút gọn lại bộ máy hành chính của
mình. Như vậy thì một công dân thất nghiệp khi muốn hưởng trợ cấp thất
nghiệp, bồi thường hay trợ cấp về y tế có thể ngồi ở nhà và yêu cầu qua điện
thoại hay một máy tính cá nhân thay vì cứ phải đi đến 4, 5 cơ quan khác nhau
của Chính phủ để yêu cầu.
1.1.4. Tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế
Các Chính phủ dân chủ tự do trên thế giới thấy rằng Chính phủ cũng là
một thành viên quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Chính
phủ ngày nay nhận thức rõ rằng Chính phủ cần thực hiện thêm chức năng tạo
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số- một động lực
phát triển kinh tế của thế kỷ 21. Vai trò mới này của Chính phủ yêu cầu phải có
nhiều công cụ quản lý hơn ngoài các công cụ truyền thống.
Cơ sở hạ tầng vật chất cũ như hệ thống đường bộ, đường sắt, đường ống,
hệ thống phân phối ga và điện vẫn quan trọng, song chúng cần phải được bổ
sung thêm các cơ sở hạ tầng mới như mạng điện thoại cố định, điện thoại không
dây, vệ tinh, Internet không dây,… Nếu không có cơ sở hạ tầng viễn thông tiên
tiến cũng như hệ thống giáo dục và hệ thống kỹ thuật số hiện đại cho các dịch vụ
của Chính phủ thì nước đó sẽ không có lợi thế cạnh tranh so với các nước khác.
Trên đây là một số lý do chính khiến cho Chính phủ các nước, nhất là các
nước phát triển, phải nhanh chóng gấp rút tạo tiền đề, cơ sở vật chất kỹ thuật để
chuyển đổi sang Chính phủ điện tử và đặt ra mục tiêu cho chiến lược Chính phủ
điện tử của mình.
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
8
Phát triển Chính phủ điện tử ở một số nước - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Bảng dưới đây sẽ cung cấp một số thông tin về mục tiêu mà Chính phủ
các nước G7 và một số nước khác đặt ra trong chiến lược phát triển Chính phủ
điện tử.
Tên nước Mục tiêu
Úc Đến năm 2001 tất cả các dịch vụ Chính phủ sẽ được thực hiện
trên mạng.
Canada Đến năm 2004 tất cả các dịch vụ Chính phủ quan trọng sẽ
được cung cấp trực tuyến.
Phần lan Tới năm 2000, đa số các biểu mẫu sẽ được điện hoá.
Pháp Năm 2000, tất cả chính quyền các cấp phải phổ cập truy cập
dịch vụ và thông tin Chính phủ qua mạng.
Đức Chỉ đặt ra một số mục tiêu cấp bộ.
Ailen Cung cấp hầu hết các loại dịch vụ Chính phủ qua trên mạng
vào cuối năm 2001.
Ý Chỉ đặt ra một số mục tiêu cấp bộ.
Nhật bản Tất cả các thủ tục như đăng ký, xin cấp giấy phép và các thủ
tục khác sẽ được cung cấp trên mạng Internet vào năm tài
chính 2003.
Singapore Thực hiện các dịch vụ thanh toán điện tử vào năm 2001.
UK 100% dịch vụ công sẽ được thực hiện bằng điện vào năm
2005.
Mỹ Phổ cập truy cập dịch vụ và thông tin Chính phủ qua mạng vào
năm 2003.
Nguồn: Central Internet Unit (2000)
1.2. Các nhân tố thúc đẩy sự ra đời Chính phủ điện tử
1.2.1. Toàn cầu hoá
Khoá luận tốt nghiệp - Trần Thị Liên, Anh 5 K38B
9

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét